Bản án 34/2019/HNGĐ-ST ngày 10/07/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 34/2019/HNGĐ-ST NGÀY 10/07/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 10 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử công khai vụ án thụ lý số 307/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm: 1989 (vắng mặt).

Địa chỉ thường trú: khu 3, ấp 7, xã A, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm: 1987 (vắng mặt).

Địa chỉ thường trú: khu 3, ấp 7, xã A, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 4 năm 2019 và lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn H chung sống với nhau từ năm 2015 có đăng ký kết hôn tại UBND xã An Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai vào ngày 01/10/2015. Quá trình chung sống vợ chồng chị có phát sinh mâu thuẫn, cải vã và anh H có đánh đập chị. Cụ thể, anh H đã 03 lần đánh đập, bóp cổ và kề dao vào cổ chị. Anh H nhiều lần đã nói những lời nói tiêu cực như sẽ giết chết chị rồi chết chung. Thời gian đỉnh điểm của mâu thuẫn là vào tháng 7/2018 sau khi chị bị sảy thai và ở nhà dưỡng bệnh, anh H không chăm sóc cho chị mà còn đánh chị và đòi giết chị rồi chết chung. Do chị đang bị bệnh và gặp sự đối xử tiêu cực của anh H nên chị đã bị hoảng loạn và chị đã về nhà cha mẹ ruột chị ở Vũng Tàu để dưỡng bệnh. Sau đó, chị dọn đến ký túc xá của công ty để ở cho đến nay. Từ tháng 8/2018 thì vợ chồng chị ly thân cho đến nay. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm và mục đích hôn nhân không đạt nên chị xin được ly hôn với anh H.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

Vì lý do bận công việc cá nhân nên chị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt đề ngày 09/7/2019.

Bị đơn anh Nguyễn Văn H trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trần Thị T kết hôn với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã An Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai vào ngày 01/10/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng anh sống hạnh phúc được khoảng 03 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong gia đình cộng với tính cách của anh có hơi nóng nảy nên chị T đã bỏ nhà đi đến nay được 10 tháng. Trong khoảng thời gian chị T bỏ đi thì vợ chồng anh không có nói chuyện cũng không gặp mặt để trao đổi lần nào. Bản thân anh nhận thấy mình có lỗi và mong muốn được hòa giải và gia đình đoàn tụ nhưng không có kết quả. Nay chị T xin ly hôn anh tại Tòa án thì anh đồng ý.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

Vì lý do bận công việc cá nhân nên anh H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt đề ngày 02/7/2019.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Từ khi thụ lý, quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng là đúng theo quy định pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị T và anh Nguyễn Văn H là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Quá trình sống chung anh chị không có hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn; bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống ly thân mà không có biện pháp bàn bạc đoàn tụ cho thấy mục đích hôn nhân không đạt, cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Chị T xin ly hôn, anh H cũng đồng ý ly hôn với T. Căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 việc chị T xin ly hôn với anh H là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Các đương sự khai không có nên không xét. Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Thị T và bị đơn anh Nguyễn Văn H có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh H theo quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp ly hôn. Bị đơn anh Nguyễn Văn H có hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại xã A, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

[3]. Về nội dung: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Văn H có đăng ký kết hôn tại UBND xã An Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai vào ngày 01/10/2015. Quá trình chung sống do tính tình vợ chồng không hòa hợp nên thường xảy ra mâu thuẫn. Vợ chồng chị T, anh H đã ly thân từ tháng 8/2018 đến nay mà không hàn gắn đoàn tụ được. Nay xét thấy mục đích hôn nhân không đạt, chị T xin ly hôn anh H tại Tòa án.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị T về việc xin ly hôn với anh Nguyễn Văn H thì thấy rằng: Chị T, anh H kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã An Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai vào ngày 01/10/2015 nên xác định hôn nhân giữa chị T, anh H là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ. Tại bản tự khai ngày 02/7/2019 anh H có ý kiến đồng ý ly hôn với chị T. Xét thấy, vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, quá trình ly thân đã lâu nhưng vợ chồng không bàn bạc đoàn tụ chứng tỏ mục đích hôn nhân không đạt. Do đó không thể buộc một cuộc hôn nhân tồn tại mà không có hạnh phúc. Mặt khác anh H cũng đồng ý ly hôn nên chấp nhận đơn xin ly hôn của chị T, xử cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Không có nên không xét.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xét.

[4] Về án phí: Chị T là người nộp đơn xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 235, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 8, 9, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T về việc xin ly hôn với anh Nguyễn Văn H. Xử cho chị Trần Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

2. Về nuôi con chung: Không có nên không xét.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

4. Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xét.

5. Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0001479 ngày 07/5/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Chị T đã nộp đủ án phí.

Chị T, anh H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.


34
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 34/2019/HNGĐ-ST ngày 10/07/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:34/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Thành - Đồng Nai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:10/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về