Bản án 244/2019/HS-ST ngày 31/05/2019 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH Đ

BẢN ÁN 244/2019/HS-ST NGÀY 31/05/2019 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Trong ngày 31 tháng 05 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ, Tòa án nhân dân thành phố B đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 217/2019/HSST ngày 09/05/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 218/2019/QĐXXST-HS ngày 13/05/2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức N (tên gọi khác là Nam Heo): sinh năm 1992 tại tỉnh ĐNơi cư trú: 245/23, khu phố 5A; phường Long B, thành phố Biên H, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: không;Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính:Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đức B; sinh năm: 1964 (còn sống) và bà: Nguyễn Thị S; sinh năm: 1965 (còn sống); Tiền án; tiền sự: không; Bị bắt ngày 09/03/2019. Hiện đang bị tạm giam tại Nha tam giư thanh phô B.

* Người bị hại: Anh Nguyễn Duy Khánh L, sinh năm 1992

Trú tại: Nhà không số thuộc ấp Vườn D, xã Phước T, thành phố B, tỉnh Đ.

* Người làm chứn g: Anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1986

Trú tại: Số nhà 319/38, tổ 12, khu phố 6, phường Long B, thành phố B, tỉnh Đ.

(Bị cáo Ncó mặt; bị hại L và người làm chứng Nguyễn Đức T vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 02h30 phút ngày 03/10/2018, Nguyễn Đức N điều khiển xe mô tô biển số 60FK-2387 đến tiệm Internet Đức Tài ở KP6, phường Long B, thành phố B do anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1986, ngụ tại tổ 12, KP6, phường Long B, thành phố B, tỉnh Đ làm chủ để chơi game. Khi đến quán, N phát hiện tại bãi giữ xe của tiệm có 01 xe mô tô biển số 72K1-119.37 của anh Nguyễn Duy Khánh L là khách chơi game trong tiệm, chìa khóa vẫn còn đang cắm trên ổ điện nên Nnảy sinh ý định trộm chiếc xe trên. Đến khoảng 04h30 phút cùng ngày, N đi ra dắt xe mô tô của anh L, rồi nổ máy điều khiển xe đem đi cất giấu, sau đó quay lại lấy chiếc xe của N. Đến khoảng 06h00’ cùng ngày, anh Linh phát hiện xe của mình bị lấy cắp nên báo Công an phường Long B. Sau đó, Công an phường mời N về làm việc, Nam thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản nên đã lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B điều tra xử lý.

Vật chứng vụ án: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 72K1-119.37 sau khi trộm cắp Nguyễn Đức Nam đã đem đến khu chợ đối diện Bệnh viện Thống Nh bán cho hai người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ được 3.000.000đ, sau đó Nam dùng số tiền này tiêu xài cá nhân hết nên không thu hồi được.

Tại bản kết luận định giá số 438/TCKH-HĐĐG ngày 05/12/2018, của Hội đồng định giá tài sản thành phố B kết luận: “01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 72K1-119.37 trị giá 10.000.000đ (Mười triệu đồng)” Về dân sự: Anh Nguyễn Duy Khánh L yêu cầu N bồi thường trị giá tài sản bị mất trộm theo kết luận định giá của Hội đồng định giá. Hiện Nam chưa bồi thường.

Đi với chiếc xe mô tô biển số 60FK-2387 N khai mượn của chị Huỳnh Thị Mỹ D thuê trọ gần nhà nhưng chị D đã dọn nhà đi đâu không rõ, nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 225/CT/VKS-BH ngày 04/05/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức Nvề tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại Điều 173 khoản 1 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự, xử phạt bị cáo N mức án từ: 01 (Một) năm tù giam đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù giam.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tuyên buộc Nguyễn Đức N bồi thường 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) cho anh Nguyễn Duy Khánh L Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại, người làm chứng;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Biên H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay, bị cáo Nguyễn Đức N đã khai nhận: Do bị nghiện ma túy và cần tiền tiêu xài, nên vào khoảng 04h30 phút ngày 03/10/2018, tại tiệm internet Đức Tài ở khu phố 6, phường Long Bthành phố Biên H, khi phát hiện sự sơ hở của người bị hại trong việc quản lý tài sản, Nguyễn Đức N đã nảy sinh ý định và thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 72K1-119.37, trị giá 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) theo như kết quả định giá của Hội đồng định giá, là tài sản thuộc về sở hữu của anh Nguyễn Duy Khánh L thì bị phát hiện xử lý. Lời khai nhận này của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; lời khai người bị hại; lời khai người làm chứng. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự như nội dung bản cáo trạng số 225/CT/VKS-BH ngày 04/05/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố B đã truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo tuy tuổi đời còn rất trẻ, có gia đình, bố mẹ đầy đủ và về cơ bản được cho ăn học đàng hoàng nhưng lại ham chơi, đua đòi tụ tập với đối tượng xấu, sống lang thang, không chịu tu dưỡng bản thân, tìm kiếm một công việc làm chân chính để tự nuôi sống bản thân và gia đình, rèn luyện để trở thành một người công dân có ích cho xã hội, đam mê vào các loại trò chơi game công nghệ, và hiện nay đã bị nghiện ma túy. Việc không có nghề nghiệp, ham chơi, đua đòi, thiếu tiền tiêu xài đã dẫn đến việc bị cáo nảy sinh lòng tham trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Duy Khánh L là chiếc xe mô tô, sau đó đem bán lấy tiền tiêu xài hết. Ngoài ra, xét về nhân thân của bị cáo, mặc dù ở thời điểm hiện tại bị cáo mới chỉ ở tuổi đời 27 tuổi, nhưng lại có nhân thân rất xấu, 02 lần bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc vì có hành vi trộm cắp tài sản nhiều lần, nhưng do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên chỉ bị xử lý hành chính; sau đó ngày 23/04/2015, bị Tòa án nhân dân Thành phố B xử phạt 16 (Mười sáu) tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, điều đó cho thấy bị cáo là đối tượng coi thường pháp luật, có dấu hiệu trượt dài trong cuộc sống. Sau khi phạm tội lại chưa thể hiện được thiện chí khắc phục hậu quả cho người bị hại. Từ những phân tích trên, xét thấy cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.

[3] Khi lượng hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo N thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải về hành vi đã thực hiện. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Duy Khánh Lyêu cầu Nbồi thường trị giá tài sản bị mất trộm theo kết luận định giá của Hội đồng định giá. Xét yêu cầu này của anh Nguyễn Duy Khánh Llà chính đáng và phù hợp với quy định của pháp luật. Hiện bị cáo Nchưa bồi thường khoản tiền nào cho người bị hại nhằm khắc phục một phần hậu quả, nên cần buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ số tiền này.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo N phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 500.000đ án phí Dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức N (Nam Heo) phạm tội“Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N (Nam Heo): 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 09/3/2019.

Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584 và 585 Bộ luật Dân sự năm 2015:

Buộc bị cáo Nguyễn Đức Nphải bồi thường cho anh Nguyễn Duy Khánh L số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015

Quyết định này được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo N phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 500.000đ án phí Dân sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


31
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 244/2019/HS-ST ngày 31/05/2019 về tội cố ý gây thương tích

Số hiệu:244/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 31/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về