Bản án 2435/2018/HNGĐ-ST ngày 23/11/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 2435/2018/HNGĐ-ST NGÀY 23/11/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 23/11/2018 tại phòng xử án - Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 956/2018/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 487/2018/QĐST-HNGĐ ngày 05/11/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nghiêm Mỹ H.

Địa chỉ: đường M, phường N, quận P, thành phố Hồ Chí Minh. Bị đơn: Ông Lê Hồng X.

Địa chỉ: đường M, phường N, quận P, thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 10/5/2018, tại Bản tự khai và các biên bản hoà giải, nguyên đơn là bà Nghiêm Mỹ H trình bày:

Bà và ông Lê Hồng X tự nguyện yêu thương nhau và đăng ký kết hôn ngày 12/7/2011 tại Ủy ban nhân dân phường N, quận P, thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 107/2011, quyển số 01/2011.

Quá trình sống chung vợ chồng hạnh phúc trong 03 năm đầu. Sau đó xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp, vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cải vã nhau, không thể hàn gắn. Hiện nay bà và ông X không còn sống chung với nhau, đã ly thân từ năm 2017 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông X.

Về con chung: Có 01 con chung là Lê Công L, sinh ngày 07/01/2012. Bà H yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông X cấp dưỡng phí tổn nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Lê Hồng X:

Toà án nhân dân quận Bình Thạnh đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho ông X. Ông X đã vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh tiến hành giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn có đơn đề ngày 05/11/2018 xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với ông X.

Bị đơn vắng mặt không có lý do, mặc dù Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đối với bị đơn để tham gia phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu: Được thể hiện đầy đủ trong bài phát biểu số 330/PB-VKS-HNGĐ ngày 23/11/2018.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ giữa bà Nghiêm Mỹ H và ông Lê Hồng X là quan hệ hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, do ông X cư trú tại quận Bình Thạnh nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

2. Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã thực hiện thủ tục triệu tập xét xử hợp lệ đối với bị đơn hai lần nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Về phía nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 05/11/2018. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ kiện vắng mặt các đương sự.

3. Về yêu cầu của các đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 107/2011, quyển số 01/2011 ngày 12/7/2011 của Ủy ban nhân dân phường N, quận P, thành phố Hồ Chí Minh thể hiện hôn nhân giữa bà H và ông X là hợp pháp.

Nay nguyện vọng của bà H muốn ly hôn với ông X vì lý do tính cách không phù hợp, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà và ông X đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay và không thể hàn gắn lại hạnh phúc gia đình.

Hội đồng xét xử xét, Hôn nhân là việc nam nữ tự nguyện thương yêu và xây dựng hạnh phúc gia đình, trong đó cả hai cùng chung tay vun đắp cho hạnh phúc chung, tin tưởng và cùng nhau vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống. Tuy nhiên, quá trình chung sống giữa bà H và ông X trong thời gian đầu hạnh phúc, sau đó xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do giữa hai người bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng, tính cách không phù hợp, nên dẫn đến thường xuyên cãi vã và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng kéo dài. Hai bên đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay và không thể hàn gắn được, hiện nay bà H không còn tình cảm với ông X. Vì vậy, nguyện vọng của bà H xin được ly hôn với ông X là có cơ sở nên được chấp nhận.

Về con chung:

Căn cứ vào Trích lục giấy khai sinh số 240/TLKS-BS do Ủy ban nhân dân phường N, quận P, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/4/2018 đã có đủ cơ sở thể hiện giữa bà H và ông X có 01 con chung là Lê Công L, sinh ngày 07/01/2012.

Bà H có nguyện vọng được nuôi dưỡng trẻ Lê Công L và không yêu cầu ông X cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét, Trong suốt quá trình hai vợ chồng ly thân từ năm 2017 đến nay thì bà H đang trực tiếp nuôi trẻ L, cháu vẫn phát triển tâm sinh lý bình thường, ổn định, sức khỏe tốt. Do đó, yêu cầu được nuôi dưỡng con chung của bà H có cơ sở nên được chấp nhận.

Bà H đủ điều kiện kinh tế nên không yêu cầu ông X cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy yêu cầu của bà H là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên được chấp nhận.

Về tài sản chung: Bà H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí DSST: 300.000 đồng, bà H phải đóng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ vợ chồng: Bà Nghiêm Mỹ H được ly hôn với ông Lê Hồng X.

Về con chung: Giao trẻ Lê Công L, sinh ngày 07/01/2012 cho bà Nghiêm Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng.

Bà H đủ điều kiện nuôi con nên không yêu cầu ông X cấp dưỡng nuôi con.

Ông X được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con. Vì quyền lợi của con khi cần thiết đôi bên được quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc tiền cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí DSST: là 300.000 đồng, bà H phải đóng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0004610 ngày 24/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh. Bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ


16
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 2435/2018/HNGĐ-ST ngày 23/11/2018 về ly hôn

Số hiệu:2435/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 23/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về