Bản án 23/2018/HNGĐ-ST ngày 15/06/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 23/2018/HNGĐ-ST NGÀY 15/06/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Trong ngày 15 tháng 6 năm 2018, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 486/2017/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2017 về tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2018/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T1– sinh năm 1985; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 6, khu B, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; Chỗ ở hiện nay: Tổ 3, khu B, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh – Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh H – sinh năm 1979; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 6, khu B, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh –

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/8/2017, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Phạm Thị T1trình bày:

Chị kết hôn với anh Nguyễn Mạnh H trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 07/4/2014. Trước khi kết hôn, vợ chồng có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 06 tháng.

Sau khi kết hôn, hai vợ chồng về chung sống trên đất của mẹ chồng ở tổ 6, khu B, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận đến khoảng tháng 3/2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H bỏ việc công nhân rồi sau đó không làm việc để chăm lo cho cuộc sống gia đình, một mình chị T1vừa sinh con, vừa đi làm lo kinh tế gia đình nên cuộc sống rất khó khăn, anh H còn mắng chửi, sỉ nhục chị thậm tệ. Chị đã bỏ qua cho anh H nhiều lần và cố khuyên giải nhưng anh H không thay đổi. Mâu thuẫn của vợ chồng chị đã được hai bên gia đình và tổ dân khu phố hòa giải nhưng không có kết quả. Tháng 5/2016, chị T1đã đưa con về nhà ngoại tại số nhà 02A, tổ 3, khu B, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Chị và anh H sống ly thân với nhau từ đó cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, anh H thường xuyên lên nhà mẹ đẻ của chị chửi bới, đập phá, thách thức, gây rối trật tự khu phố, Công an phường C, tổ trưởng trật tự khu phố phải đến can thiệp.

Xét thấy tình cảm của chị dành cho anh H không còn nữa, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự trầm trọng, căng thẳng kéo dài nên chị yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh H.

Về con chung: Chị T1và anh H có 01 con chung là Nguyễn Điền T2, sinh ngày 17/3/2015. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, con chung ở với chị T1. Khi ly hôn, chị T1xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng cho con chung.

Về tài sản chung và công nợ chung: Không có, chị T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Mạnh H vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có bản tự khai tại hồ sơ thể hiện: Anh kết hôn với chị Phạm Thị T1 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 07/4/2014, trước khi kết hôn vợ chồng có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 06 tháng.

Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau trên phần đất của mẹ đẻ của anh cho ở nhờ tại tổ 6, khu B, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận cho đến khoảng đầu năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh dỡ bỏ phòng ở của vợ chồng để xây nhà mới nhưng mới chỉ làm xong được phần móng nhà thì thiếu kinh phí xây dựng, cộng thêm sự khó khăn về kinh tế để lo toan cho cuộc sống gia đình dẫn đến vợ chồng xảy ra xích mích với nhau, đã có lần 02 bên gia đình anh và chị T1đã có lời qua tiếng lại. Đến khoảng tháng 5/2016, chị T1đưa con chung của anh chị về nhà ngoại sinh sống ở tổ 3, khu B, phường C, thành phố Cẩm Phả, vợ chồng sống ly thân với nhau từ đó cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Mâu thuẫn giữa anh và chị T1đã được tổ dân khu phố hòa giải nhưng không thành. Xét thấy chị T1cương quyết xin ly hôn nên anh H đồng ý ly hôn với chị T.

Về con chung: Anh H và chị T1có 01 con chung là Nguyễn Điền T2, sinh ngày 17/3/2015. Khi ly hôn, anh đồng ý giao con chung cho chị T1trực tiếp nuôi dưỡng và anh H không phải cấp dưỡng cho con hàng tháng.

Về tài sản chung và công nợ chung: Không có, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết. 

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn chị Phạm Thị T1trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, bị đơn là anh Nguyễn Mạnh H tuy đã được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70; Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, thấy có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của chị Phạm Thị T, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là anh Nguyễn Mạnh H có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, nên yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị T1thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Nguyễn Mạnh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ mà vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị T1và anh Nguyễn Mạnh H: Anh H kết hôn với chị T1trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 07/4/2014. Trong quá trình chung sống giữa chị T1và anh H đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, không có nơi ở ổn định. Đến khoảng tháng 5/2016, chị T1và anh H sống ly thân với nhau, chị T1đã đưa con về nhà mẹ đẻ của chị sinh sống nhưng anh H nhiều lần đến gây rối đến mức phải có sự can thiệp của tổ an ninh khu phố và Công an phường C. Chị T1xác định không còn tình cảm với anh H và cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H. Do chị T1cương quyết xin ly hôn với anh H nên anh H cũng đồng ý ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy, nội dung trình bày của các đương sự và nội dung xác minh tại tổ dân khu phố đều xác định tình trạng mâu thuẫn giữa vợ chồng chị T, anh H đã kéo dài, quá trình hòa giải tại tổ dân khu phố không thành, chị T1và anh H đã sống ly thân trong thời gian dài. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T1và anh H mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu giải quyết cho ly hôn của chị Phạm Thị T1và anh Nguyễn Mạnh H là có căn cứ chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị T1và anh H có 01 con chung là Nguyễn Điền T2, sinh ngày 17/3/2015. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, con chung ở với chị T. Khi ly hôn, chị T1và anh H đều có quan điểm giao con chung cho chị T1trực tiếp nuôi dưỡng và anh H không phải cấp dưỡng cho con hàng tháng. Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận.

[4] Về tài sản chung và công nợ chung: Không có, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Phạm Thị T1 là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng: Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Phạm Thị T1.

1. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị T1được ly hôn anh Nguyễn Mạnh H.

2. Về con chung: Chị Phạm Thị T1 có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Nguyễn Điền T2, sinh ngày 17/3/2015 cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Mạnh H không phải cấp dưỡng cho con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở

3. Về tài sản chung và công nợ chung: Không có, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị T1phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T1đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0009819 ngày 29/12/2017 của Chi cục Thi Hnh án dân sự thành phố Cẩm Phả. Chị T1đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn chị Phạm Thị T1có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Nguyễn Mạnh H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.


47
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2018/HNGĐ-ST ngày 15/06/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:23/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cẩm Phả - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 15/06/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về