Bản án 22/2019/HNGĐ-ST ngày 14/06/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 22/2019/HNGĐ-ST NGÀY 14/06/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 14 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 90/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2019 về việc: “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2019/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Ngọc L, sinh năm 1977. (có mặt)

Cư trú tại: Ấp C, xã T, huyện N, tỉnh C ..

- Bị đơn: Ông Lê Phương K, sinh năm 1971. (xin vắng mặt).

Cư trú tại: Ấp C, xã T, huyện N, tỉnh C ..

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Ngọc L trình bày:

 - Về hôn nhân: Vào năm 2000 bà L và ông K qua mai mối và đi đến hôn nhân, nhưng đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.

Trong quá trình chung sống vợ chồng thường cự cải với nhau, mâu thuẫn ngày càng nhiều, không thể hàn gắn quan hệ hôn nhân. Nay tình cảm vợ chồng không còn, nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông Lê Phương K.

- Về con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản và công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai ngày 09 tháng 5 năm 2019, bị đơn ông Lê Phương K trình bày:

- Về hôn nhân: Vào năm 2000 ông K và bà L tìm hiểu và đi đến hôn nhân là tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương, nhưng đến nay chưa đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Trong quá trình chung sống, vợ chồng bất đồng quan điểm, thường hay cự cải với nhau. Nay bà L yêu cầu ly hôn thì ông K đồng ý.

- Về con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản và công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Lê Phương K có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

* Tại phiên tòa:

- Bà L yêu cầu ly hôn với ông K; về con chung, tài sản và công nợ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Ông Lê Phương K vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Lê Phương K có đơn yêu cầu xin vắng mặt; Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt đối với ông Lê Phương K là có căn cứ.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Bà L và ông K tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương, nhưng chưa đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.

Theo lời trình bày của bà L và ông K, thì vợ chồng chung sống không hợp tính nhau dẫn đến mâu thuẫn trong cuộc sống do bất đồng quan điểm, đã ly thân từ năm 2014, vợ chồng thuận tình ly hôn, tuy nhiên việc thuận tình ly hôn của ông bà không được Tòa án công nhận, do bà L và ông K sống chung với nhau mà không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, đã vi phạm Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, theo quy định tại khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Ngọc L và ông Lê Phương K không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

[2.2] Về con chung, tài sản và công nợ: Do đương sự không đặt ra yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bà Phạm Ngọc L phải chịu với số tiền là 300.000 đồng, được trừ phần tạm ứng án phí đã nộp.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ vào:

- Khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Phạm Ngọc L và ông Lê Phương K.

2. Về con chung, tài sản và công nợ: Đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc bà Phạm Ngọc L phải chịu với số tiền là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005667 ngày 11 tháng 4 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển, án phí sơ thẩm bà L đã nộp xong.

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


27
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 22/2019/HNGĐ-ST ngày 14/06/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:22/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ngọc Hiển - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về