Bản án 22/2017/HNGĐ-ST ngày 30/08/2017 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

BẢN ÁN 22/2017/HNGĐ-ST NGÀY 30/08/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN 

Ngày 30 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 12/2016/TLST– HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2016, về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Ngọc B, sinh năm 1986. Địa chỉ: ấp L, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. (có mặt)

2. Bị đơn: Anh Lee Seung C, sinh năm 1973. Địa chỉ: Hàn Quốc. (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 29 tháng 3 năm 2016 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Ngọc B trình bày: Chị và anh Lee Seung C tự nguyện đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền Hàn Quốc và đã được ghi chú hộ tịch tại Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu vào ngày 07/4/2006. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại Thành phố Hồ Chí Minh được khoảng 03 ngày thì anh Lee Seung C về lại Hàn Quốc sinh sống. Sau đó anh Lee Seung C làm thủ tục bảo lãnh chị sang Hàn Quốc sinh sống được khoảng 01 tuần thì chị về Việt Nam sinh sống cho đến nay. Từ năm 2006 đến nay, chị và anh Lee Seung C không còn liên lạc với nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lee Seung C. Về con chung, tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết.

Đối với bị đơn anh Lee Seung C, Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã thực hiện ủy thác tư pháp tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, kết quả ủy thác lần thứ nhất được Cơ quan có thẩm quyền Hàn Quốc trả kết quả không tống đạt được do địa chỉ không đầy đủ, còn đối với lần ủy thác thứ hai đến nay Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu không nhận được thông báo kết quả ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền, cũng như Tòa án không nhận được văn bản trả lời của anh Lee Seung C về những vấn đề có liên quan đến quan hệ hôn nhân giữa anh với chị Lê Ngọc Bích và anh Lee Seung C cũng không về Việt Nam tham gia phiên hòa giải, phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án.

Quan điểm của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Giải quyết đúng thẩm quyền, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và người tham gia tố tụng đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự đã thực hiện đầy đủ.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều  51, 56 121 và Điều 122 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Lê Ngọc B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu nhận định:

[1]. Về tố tụng: Bị đơn anh Lee Seung C có quốc tịch Hàn Quốc hiện đang cư trú tại Hàn Quốc nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã thực hiện ủy thác tư pháp tống đạt thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hòa giải, triệu tập xét xử đối với anh Lee Seung C theo quy định của pháp luật nhưng không nhận được ý kiến phản hồi của anh Lee Seung C và anh Lee Seung C cũng không về Việt Nam tham gia phiên hòa giải, phiên tòa xét xử theo giấy triệu tập của Tòa án, nên căn cứ điểm c khoản 5 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với anh Lee Seung C.

[3]. Về hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Ngọc B và anh Lee Seung C có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền Hàn Quốc và đã được ghi chú hộ tịch tại Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu vào ngày 07/4/2006. Chị B xác định việc kết hôn với anh Lee Seung C là tự nguyện, không bị ép buộc hay lừa dối. Nên có cơ sở để xác định hôn nhân giữa chị B và anh Lee Seung C là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật Việt Nam bảo vệ.

[4]. Sau khoảng 03 ngày chung sống thì anh Lee Seung C về Hàn Quốc sinh sống và có làm thủ tục bảo lãnh chị B sang Hàn Quốc để đoàn tụ. Sau khi chị B sang Hàn Quốc sinh sống với anh Lee Seung C được khoảng 01 tuần do cuộc sống hôn nhân có nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống cũng như nền văn hóa và ngôn ngữ khác nhau nên chị B về lại Việt Nam sinh sống cho đến nay. Từ năm 2006 đến nay, chị B và anh Lee Seung C không còn liên lạc với nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị B yêu cầu được ly hôn với anh Lee Seung C. Hội đồng xét xử xét thấy, theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình”, nhưng hôn nhân của chị B và anh Lee Seung C không còn sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình và hiện nay chị B và anh Lee Seung C mỗi người ở một nơi không còn liên lạc được với nhau, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có căn cứ để chấp nhận đơn khởi kiện yêu của chị Lê Ngọc B yêu cầu được ly hôn với anh Lee Seung C.

[5] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Ngọc B xác định, trong thời gian chung sống, vợ chồng không có con chung, tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình và lệ phí thực hiện ủy thác tư pháp chị Lê Ngọc B phải nộp toàn bộ theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Ngọc B cho chị Lê Ngọc B được ly hôn với anh Lee Seung C, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng áp dụng các Điều về thẩm quyền giải quyết của Tòa án; điểm c khoản 5 Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 121 và khoản 1 Điều 122, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Nghị quyết số 326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử

1/ Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn của chị Lê Ngọc B.

+ Xử cho chị Lê Ngọc Bích, sinh năm 1986 được ly hôn với anh Lee Seung C, sinh năm 1973.

+ Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

2/ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, lệ phí ủy thác tư pháp:

+ Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Lê Ngọc B phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), chị Lê Ngọc B đã nộp tạm ứng án phí số tiền 200.000đ theo biên lai thu 0004607 ngày 10/5/2016 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu, được chuyển thu án phí.

+ Lệ phí ủy thác tư pháp chị Lê Ngọc B phải nộp 3.150.000đ (Ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng), chị Lê Ngọc B đã nộp 3.150.000đ theo các biên lai thu số 0000850 ngày 23/5/2016 và biên lai thu số 0006201 ngày 12/01/2017 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu lệ phí.

Án xử sơ thẩm công khai, chị Lê Ngọc B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; anh Lee Seung C có quyền kháng cáo trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày tuyên án.


96
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về