Bản án 215/2017/HSST ngày 12/07/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 215/2017/HSST NGÀY 12/07/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Hôm nay, ngày 12/7/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 219/2017/HSST ngày 25/5/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2017/QĐXX - HSST ngày 29/6/2017 đối với các bị cáo:

Hoàng Ngọc T, sinh năm 1993. HKTT: Thôn L, xã N, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh. Con ông Hoàng Ngọc M, sinh năm 1963 và bà Trần Thị H, sinh năm 1966; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là thứ 03; Vợ Con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/02/2017 đến nay, hiện đang bị tạmgiam tại trại Tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại phiên toà.

Nguyễn Văn H, sinh năm 1991.

HKTT: Thôn H, xã N, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh.

Con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1952 và bà Hoàng Thị M, sinh năm 1954; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là thứ 04; Vợ Con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/02/2017 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại Tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bản cáo trạng số 121/2017/CTr - VKS ngày 25/5/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố Hoàng Ngọc T và Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tóm tắt nội dung vụ án như sau: Khoảng 14h40’ ngày 07/02/2017, trên đường Như Nguyệt thuộc khu 5, phường Đáp Cầu, thành phố Bắc Ninh tổ công tác Công an phường Đáp Cầu phối hợp với tổ công tác Công an phường Thị Cầu phát hiện bắt quả tang Hoàng Ngọc T và Nguyễn Văn H có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã bắt giữ T, H cùng toàn bộ tang vật đưa về trụ sở công an phường lập biên bản phạm tội quả tang, niêm phong tang vật gửi đi giám định.

Vật chứng thu giữ: Thu tại túi quần bò phía trước bên phải của T đang mặc 02 gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng.

Tại bản kết luận giám định số 220/KLGĐ- PC54 ngày 07/02/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy bạc màu trắng có trọng lượng 0,2493 gam. Loại ma túy: chất Heroine”

Quá trình xét hỏi tại cơ quan điều tra các bị cáo T và H đều đã khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 14h ngày 07/02/2017, T có điện thoại dủ H đi đến phường Đáp Cầu, thành phố Bắc Ninh mua ma túy về sử dụng chung, H đồng ý. Sau đó H mượn xe máy nhãn hiệu Wave BKS 99E1- 233.55 của bố H là ông Nguyễn Văn Đới ( khi mượn xe H không nói cho ông Đới biết việc H mượn xe đi mua ma túy) đi đến nhà T đón T. H chở T đi đến cổng chợ Đáp Cầu, thuộc phường Đáp Cầu, thành phố Bắc Ninh thì H dừng xe lại, tại đây T đưa cho H 390.000 đồng để H đi mua ma túy. H nhận tiền và bảo T đứng chờ ở cổng còn H đi xe máy vào khu vực trong chợ Đáp Cầu. Khi vào trong chợ , H gặp 01 người đàn ông không quen biết, H hỏi người đàn ông này có ma túy không bán cho H, người đàn ông đồng ý. H lấy 390.000 đồng T vừa đưa và góp thêm 10.000 đồng được 400.000 đồng đưa cho người đàn ông, người đàn ông nhận tiền và đưa lại cho H 02 gói giấy bạc màu trắng, H biết bên trong 02 gói giấy bạc màu trắng có ma túy nên H nhận và điều khiển xe mô tô ra chỗ T đang đợi. Gặp T, H đưa cho T 02 gói giấy bạc vừa mua, T biết trong 02 gói đó có ma túy nên nhận và cất vào túi quần bò bên phải phía trước của T đang mặc rồi H chở T về nhà.Trên đường về, T và H gặp tổ công tác Công an phường Đáp Cầu và Công an phường Thị Cầu đang đi tuần tra, tổ công tác thấy T và H có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính đối với H và T. Tổ công tác đã kiểm tra bắt giữ H và T cùng tang vật.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo T, H khai nhận tội, lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của các bị cáo.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T, H khai như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận hành vi phạm tội của các bị cáo như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh thực hiện quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội đã đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết tội đối với các bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên cácbị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Khoản 1, Điều 194; điểm p, khoản 1, (khoản 2 đối với H) Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự

Áp dụng Nghị quyết 144/2016/NQ-QH ngày 29/6/2016. Nghị quyết 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 về việc áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội. Xử phạt:

Bị cáo Hoàng Ngọc T từ 15 tháng đến 20 tháng tù.

Bị cáo Nguyễn Văn H từ 14 tháng đến 18 tháng tù. Phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về tang vật: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư số 206/KLGĐ- PC54 ngày 07/02/2017 có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng truy tố là đúng, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của các bị cáo, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận; trên cơ sở xem xét toàn diện, đầy đủ chứng cứ, cụ thể: Lời khai của T, H phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ và tang vật thu giữ do vậy HĐXX xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14h50 ngày 07/02/2017

Hoàng Ngọc T và Nguyễn Văn H đã có hành vi cất giữ bất hợp pháp 0,2493 gam ma túy, là chất Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” phạm vào khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận không tốt trên địa bàn. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc các bị cáo bằng luật hình để tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Mặt khác, như chúng ta điều biết ma túy là hiểm họa của loài người, ngoài việc tiêu tốn tiền cho cơn nghiện, nguy hại hơn việc sử dụng ma túy là nguyên nhân lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS trong cộng đồng; làm ảnh hưởng tới sức khỏe bản thân, giống nòi...Ma túy còn gây nhiều hệ lụy khác cho xã hội. Do vậy, cần có một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã phạm mới có dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét vai trò, tính chất của vụ án thì thấy, trong vụ án này các bị cáo thực hiện đồng phạm với vai trò giản đơn. T đưa cho H số tiền 390.000 đồng và H thêm 10.000 đồng, H là người trực tiếp đi mua ma túy nên hai bị cáo có vai trò ngang nhau. Do vậy cũng cần có hình phạt thích đáng mới đủ giáo dục các bị cáo thành công dân tốt.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy: Bị cáo T, H khi phạm tội chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo H, mẹ bị cáo là thương binh, được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS. Do vậy cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.

Đồng thời căn cứ Nghị quyết 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc Hội về Thi hành Bộ luật Hình sự; Nghị Quyết 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 về việc lùi hiệu lực thi hành Bộ luật Hình sự 100/2015/QH13 và Công văn 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 của TANDTC hướng dẫn áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội thì tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 chỉ có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù nên cần áp dụng khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh là có căn cứ và phù hợp, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo T và bị cáo H ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới giúp các bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với các bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư số 220/KLGĐ- PC54 ngày 07/02/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay.

Liên quan trong vụ án này có người đàn ông đã bán ma túy cho H nhưng H không biết rõ tên, tuổi và địa chỉ cụ thể của người này. Do vậy Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với ông Nguyễn Văn Đới là bố đẻ của H, khi mượn xe, H không nói cho ông Đới biết việc H mượn xe là để đi mua ma túy nên ông Đới không biết việc H đi mua ma túy, do vậy cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh không đề cập xử lý đối với ông Đới là phù hợp.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 Bộ luật hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố Hoàng Ngọc T và Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1, Điều 194; điểm p, khoản 1, Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự;

Áp dụng Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội. Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 về việc áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội.

Xử phạt: Hoàng Ngọc T 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/02/2017.

- Áp dụng khoản 1, Điều 194; điểm p, khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự;

Áp dụng Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội. Nghị quyết 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 về việc áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội.

Xử phạt: Nguyễn Văn H 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/02/2017. Quyết định tạm giam các bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án 12/7/2017 để đảm bảo thi hành án.

- Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có niêm phong theo kết luận giám định số 220/KLGĐ- PC54 ngày 07/02/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh. (Theo biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Bắc Ninh ngày 29/3/2017).

- Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định án phí và lệ phí Tòa án buộc Hoàng Ngọc T và Nguyễn Văn H mỗi người phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


71
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về