Bản án 193/2017/HSST ngày 16/09/2017 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, TP. HÀ NỘI

BẢN ÁN 193/2017/HSST NGÀY 16/09/2017 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 16/9/2017, tại Trụ sở tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 221/2017/HSST, ngày 06 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn N, sinh ngày 24 tháng 3 năm 1999. ĐKNKTT và nơi ở: Thôn 1B, xã Minh Phú, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Văn hoá: 8/12, nghề N: Công nhân dệt ; Dân tộc: Kinh, Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn Thành (đã chết), Con bà: Đỗ Thị Toan, sinh năm 1967, nghề N: làm ruộng. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 02.Tiền án, Tiền sự: Chưa. Danh chỉ bản số 347, do công an quận Nam Từ Liêm thành phố Hà Nội lập ngày 20/6/2017. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. - Có mặt tại phiên tòa

Người bị hại : anh Nguyễn Thế Tiền, sinh năm: 1993. HKTT: xã Thụy Hà, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình - Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng đầu tháng 03/2017, thấy nhiều người đăng tin mua bán tiền giả trên trang mạng xã hội facebook nên Trần Văn N nảy sinh ý định sẽ đăng tin bán tiền giả như vậy và dùng tiền âm phủ (tiền vàng mã) bọc kín lại, chỉ có tờ bên ngoài là tiền thật để đánh lừa người mua nhằm chiếm đoạt tiền của họ. N dùng tài khoản Facebook “Ộp's Pi's” đăng tin với nội dung: “Mua bán tiền giả uy tín không cọc tại Hà Nội, ai mua thì inbox hoặc để lại số điện thoại bọn mình sẽ tự liên hệ 0162.886.5442”. Ngày 28/03/2017, anh Nguyễn Thế Tiền (SN: 1993; HKTT: Thụy Hà, Thái Thụy, Thái Bình) vào mục bình luận để lại số điện thoại. Trần Văn N dùng Facebook cá nhân "Ộp's Pi's" nhắn tin vào Facebook cá nhân "Nguyễn Thế Tiền" của anh Tiền hỏi "Có mua tiền giả không?". Anh Tiền hỏi lại "Bán tiền giả tỉ lệ bao nhiêu?" và được cho biết tỉ lệ quy đổi 1.000.000 đồng lấy 7.000.000 đồng tiền giả. Sau đó, anh Tiền đồng ý mua của N 7.000.000 đồng để lấy 49.000.000 đồng tiền giả, hẹn đến ngày 02/04/2017 sẽ giao nhận tiền tại bến xe Mỹ Đình thuộc địa phận phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Khoảng 19 giờ ngày 02/04/2017, anh Tiền và N gặp nhau tại khu nhà vệ sinh của bến xe Mỹ Đình như đã hẹn. Tại đây, anh Tiền đưa cho N 7.000.000 đồng và nhận của N bọc hình chữ nhật quấn chặt băng dính đen có để lộ ra một góc tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng rồi bắt xe về Thái Bình. Khoảng 10 phút sau anh Tiền mở bọc ra xem thấy có 2 tờ tiền 200.000 đồng là tiền thật bọc ở ngoài, còn lại là 05 tập tiền âm phủ loại 200.000 đồng và 50.000 đồng.

Ngày 06/04/2017, anh Tiền kể lại toàn bộ sự việc trên cho anh Vũ Xuân Quý (SN: 1993; Thụy Hà, Thái Thụy, Thái Bình), anh Tiền bàn bạc với anh Quý tiếp tục hỏi mua 5.000.000 đồng lấy 35.000.000 đồng tiền giả để dụ N ra. Cũng với cách thức giao dịch như vậy, khoảng 17 giờ ngày 07/04/2017, anh Quý gặp N tại khu nhà vệ sinh bến xe Mỹ Đình để giao tiền. Tuy nhiên, anh Quý yêu cầu mở bọc tiền giả để kiểm tra nhưng N không đồng ý nên N không bán nữa. Khi N bỏ đi được khoảng 300 mét thì bị anh Tiền cùng người dân giữ lại rồi đưa về trụ sở Công an phường Mỹ Đình 2 trình báo sự việc.

Tại Cơ quan Công an, N khai nhận hành vi của mình.

Vật chứng thu giữ: 01 túi xách giả da màu đen kích thước khoảng 35x30 cm; 01 điện thoại di động Iphone 6S Plus vỏ màu hồng (đã qua sử dụng), có gắn sim: 0162.886.5442; 01 điện thoại di động Nokia 1202 vỏ màu vàng (đã qua sử dụng) gắn sim 0989.937.092 ; 01 đồng hồ AONO vỏ màu trắng đã qua sử dụng; 01 dây kim loại màu trắng có xích móc (đã qua sử dụng); 01 quận băng dính màu đen; 01 ví giả da màu đen bên trong có 1.500.000 đồng; 01 bọc tiền được dán băng dính đen bên trong có: 01 tờ tiền mệnh giá 200.000, 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng. 05 tập tiền vàng mã loại 50.000 đồng, 04 tập tiền vàng mã loại 200.000 đồng.

Ngày 28/7/2017, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Trần Văn N 01 túi xách giả da màu đen; 01 đồng hồ AONO vỏ màu trắng đã qua sử dụng; 01 dây kim loại màu trắng có xích móc (đã qua sử dụng); 01 ví giả da màu đen bên trong có 1.500.000 đồng.

Về dân sự: Trần Văn N đã tự nguyện khắc phục hậu quả, trả lại phần tiền bị thiệt hại cho anh Nguyễn Thế Tiền. Anh Tiền nhận lại 6.600.000 đồng vì đã sử dụng 400.000 đồng tiền thật trong bọc tiền của N đưa. Anh Tiền không yêu cầu bồi thường dân sự và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho N.

Đối với hành vi mua tiền giả của anh Nguyễn Thế Tiền, quá trình điều tra không xác định được mục đích lưu hành tiền giả của anh Tiền do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Tại Bản cáo trạng số 204/CT-VKS ngày 30/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Trần Văn N về tội „ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản“ theo Khoản 1 Điều 139 Bộ Luật hình sự.

Tại phiên toà bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn N từ 06 đến 09 tháng tù về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Về vật chứng xử lý theo pháp luật;

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả phần tranh luận; Trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người làm chứng;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ được và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở khẳng định: Để có tiền chi tiêu cá nhân, ngày 02/4/2017, thông qua mạng facebook, Trần Văn N đã dùng thủ đoạn gian dối đưa thông tin về việc mình có tiền giả để bán cho anh Nguyễn Thế Tiền với tỷ lệ 1.000.000 đồng ăn 7.000.000 đồng, rồi dùng tiền âm phủ (tiền vàng mã) bọc kín lại, chỉ có tờ bên ngoài là tiền thật để chiếm đoạt của anh Tiền 7.000.000 tiền Việt Nam đồng

Hành vi trên của bị cáo Trần Văn N đã phạm vào tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Khoản 1 Điều 139 BLHS.

Xét tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được luật hình bảo vệ, gây tâm lý bất bình trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự an ninh xã hội. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, nhận thức được hậu quả xảy ra nhưng vẫn cố tình phạm tội. Chứng tỏ bị cáo rất coi thường pháp luật, coi thường quyền sở hữu tài sản của người khác, nên cần phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo. Song xét bị cáo lần đầu phạm tội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bố mất sớm, mẹ ốm đau, là lao động chính trong gia đình. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, có nơi cư trú rõ ràng nghĩ nên áp dụng Điều 60 đối với bị cáo, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội và giao về địa phương nơi cư trú để quản lý giáo dục cũng không ảnh hưởng đến công tác phòng chống và đấu tranh tội phạm.

Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bố bị cáo chết sớm, mẹ hay ốm đau, là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh kinh tế khó khăn có xác nhận của UBND nơi cư trú - Áp dụng Điểm p,b,p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng: không

Về dân sự: Không

Về vật chứng vụ án: Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động Iphone 6S Plus vỏ màu hồng (đã qua sử dụng), có gắn sim: 0162.886.5442; 01 điện thoại di động Nokia 1202 vỏ màu vàng (đã qua sử dụng) gắn sim 0989.937.092;  01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng là công cụ phương tiện phạm tội

Tịch thu tiêu hủy: 01 quận băng dính màu đen; 01 bọc tiền được dán băng dính đen bên trong có, 05 tập tiền vàng mã loại 50.000 đồng, 04 tập tiền vàng mã loại 200.000 đồng vì không có giá trị sử dụng ;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

1. Áp dụng Khoản 1 Điều 139; Điểm p,b Khoản 1, Khoản 2 Điều 46, Điều 60 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn N 09( chín) tháng tù , nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày Tòa tuyên án. Giao bị cáo về UBND xã Minh Phú, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ quản lý giáo dục trong thời gian thử thách

2. Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76, Điều 99; Điều 231; Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về dân sự: Không

Về vật chứng vụ án: Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động Iphone 6S Plus vỏ màu hồng (đã qua sử dụng), có gắn sim: 0162.886.5442; 01 điện thoại di động Nokia 1202 vỏ màu vàng (đã qua sử dụng) gắn sim 0989.937.092; Tịch thu tiêu hủy: 01 quận băng dính màu đen; 01 bọc tiền được dán băng dính đen bên trong có, 05 tập tiền vàng mã loại 50.000 đồng, 04 tập tiền vàng mã loại 200.000 đồng theo Biên bản bàn giao vật chứng số 197 ngày 15.01.2017 ( Số vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án quận Nam Từ Liêm).

Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng theo Giấy nộp tiền ngày 30/8/2017

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của bản án .


72
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 193/2017/HSST ngày 16/09/2017 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:193/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Nam Từ Liêm - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:16/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về