Bản án 19/2019/HNGĐ-ST ngày 30/05/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 19/2019/HNGĐ-ST NGÀY 30/05/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 30 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2019/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2019 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Lý Ngọc Tr, sinh năm 1995; địa chỉ: Ấp 4 B, xã H, huyện M, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; tạm trú: Số 220/37/9, Tổ 63, Khu phố 7, phường L, thành phố M, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Trương Công T, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn 5, xã Nh, huyện L, tỉnh Bình Thuận; tạm trú: Số 220/37/9, Tổ 63, Khu phố 7, phường L, thành phố M, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại Đơn khởi kiện đề ngày 18/01/2019 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Lý Ngọc Tr trình bày:

Bà Trâm và ông Tuấn là vợ chồng, chung sống với nhau năm 2013, đăng ký kết hôn ngày 26/6/2014 tại UBND xã H, huyện M, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Sau khi kết hôn, bà Tr, ông T sinh sống hạnh phúc tại nhà cha mẹ bà Tr tại xã H, huyện M, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Năm 2016, bà Tr, ông T đến thuê nhà trọ tại Khu phố 9, phường H, thành phố M sinh sống. Đến tháng 6/2018 chuyển đến thuê nhà trọ của ông Nguyễn Thành D tại số 220/37/9, Tổ 63, Khu phố 7, phường L, thành phố M sinh sống cho đến nay. Khoảng tháng 12/2018, bà Tr, ông T bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, gây gổ, vợ chồng không có tiếng nói chung, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, ông T thường hay bỏ nhà đi nhiều ngày không về. Bà Tr tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Hiện nay, bà Tr nhận thấy không còn tình cảm với ông T, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà Tr, ông T có 01 con chung là cháu Trương Công D, sinh ngày 02/5/2014. Do con chung còn nhỏ, đang sống với bà Tr. Vì vậy, sau khi ly hôn, bà Tr yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trương Công T không đến Tòa án làm việc, hòa giải; không nộp văn bản nêu ý kiến và cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Tại phiên tòa,

- Bà Tr có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng không đến tham gia phiên tòa. Do đó, căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa xét xử vắng mặt ông T.

- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, nhận thấy hôn nhân của bà Tr, ông T mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện về ly hôn, con chung của nguyên đơn có cơ sở chấp nhận.

+ Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm: Không.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến trình bày của nguyên đơn và ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự). Do bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự). Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn liên quan đến quyền nhân thân nên thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện (quy định tại Điều 39, khoản 1 Điều 155 của Bộ luật Dân sự).

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng:

Về hôn nhân: Bà Tr, ông T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của ông bà được pháp luật công nhận. Bà Tr nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông T không có trách nhiệm với vợ con, thường xuyên bỏ nhà đi nhiều ngày không về. Ông T không đến Tòa án trình bày ý kiến, phản bác ý kiến của bà Tr. Do đó, ý kiến của bà Tr thuộc trường hợp những tình tiết không cần phải chứng minh quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét thấy, vợ chồng phải biết yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc. Tuy nhiên, qua lời trình bày của bà Tr và thu thập chứng cứ, thấy rằng: Mâu thuẫn tình cảm giữa bà Tr, ông T là có thật và rất nghiêm trọng, cả hai đã sống ly thân nhau không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, nền tảng một gia đình hạnh phúc không có. Tòa án thông báo cho ông T đến Tòa hòa giải, hàn gắn tình cảm nhưng ông T không đến. Chứng tỏ ông T cũng không còn tình cảm với bà Tr, không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Xét thấy mâu thuẫn giữa bà Tr, ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Tr.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà Tr, ông T có 01 con chung là cháu Trương Công D, sinh ngày 02/5/2014. Sau khi ly hôn, bà Tr yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, con chung còn nhỏ, hiện nay đang sống với bà Tr, ông T không có ý kiến tranh chấp việc nuôi con với bà Tr. Do đó, Tòa chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của bà Tr, giao cháu D cho bà Tr trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con do bà Tr không yêu cầu nên Tòa không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Tr, ông T không yêu cầu Tòa giải quyết.

[3] Về án phí: Bà Tr phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 4 Điều 147, các điều 266, 273, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 39, khoản 1 Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ các điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Lý Ngọc Tr đối với bị đơn ông Trương Công T về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung.

- Về hôn nhân: Bà Tr được ly hôn ông T.

- Về con chung: Bà Tr được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trương Công D, sinh ngày 02/5/2014.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Tr không yêu cầu nên Tòa không xem xét giải quyết.

 Không ai được quyền cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của ông T. Ông T không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con của bà Tr. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Tr, ông T không yêu cầu giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân gia đình: Bà Tr nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng đã nộp trước đây theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0033441, ngày 30/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố M.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Tr, ông T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Viện Kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 19/2019/HNGĐ-ST ngày 30/05/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:19/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Dầu Một - Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:30/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về