Bản án 175/2017/HSST ngày 27/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 175/2017/HSST NGÀY 27/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Ngày 27 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu mở phiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 176/2017/HSST ngày 08 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Hà Văn P, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1970 tại xã Chiềng Ly, huyện Thuận Châu, Sơn La; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Bản P, xã Chiềng Ly, huyện Thuận Châu, tình Sơn La; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 10/10; nghề nghiệp: Trồng trọt; con ông Hà Văn H và bà Cà Thị H; vợ là Lò Thị O sinh năm 1981 và có 02 con, lớn 15 tuổi, nhỏ 02 tuổi; tiền án, tiền sư: Không; bắt tạm giam giữ từ ngày 10/6/2017 đến ngày 16/6/2017 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 10/6/2017, Hà Văn P đi bộ từ nhà ở bản P – xã Chiềng Ly – Thuận Châu sang nhà một người đàn ông tên là T ở tiểu khu H – Thị trấn Thuận Châu để mua ma túy. Khi gặp Tuấn, P hỏi và mua được của Tuấn 01(một) Heroin gói bằng ni lon màu hồng với giá 50.000đ ( Năm mươi nghìn đồng). Sau khi mua được Heroin, P cầm gói Heroin ở trên tay phải rồi đi bộ về nhà, khi về đến nhà P mở gói Heroin vừa mua được san ra một ít để sử dụng. Sau khi sử dụng xong, số Heroin còn lại P gói lại bằng ni lon màu hồng rồi cất vào trong túi quần soóc đằng trước bên phải P đang mặc. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày P điều khiển xe máy đi ra ngoài đường QL6A thuộc tiểu khu 1 – Thị trấn Thuận Châu để mua sữa cho con trai của P thì bị tổ công tác Công an huyện Thuận Châu yêu cầu dừng xe để kiểm tra ma túy. Do sợ bắt nên P không cho tổ công tác Công an huyện thuận Châu kiểm tra, nên tổ công tác Công an huyện Thuận Châu yêu cầu P về trụ sở UBND thị trấn Thuận Châu để kiểm tra. Qua kiểm tra đã phát hiện 01(một) gói Heroin gói bằng ni lon màu hồng ở trong túi quần soóc đằng trước bên phải P đang mặc nên tổ công tác đã bắt giữ P và lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang. ( BL: 44, 45; 47.48 HS )

Vật chứng thu giữ gồm:

1/ Một gói ni lon mầu hồng bên trong có chứa một ít bột cục màu trắng nghi là Hêrôin ( P khai là Hêrôin).

2/ 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe DREAM, màu sơn trắng – Đen, BKS: 26F2-5946, số khung : 00100034; số máy: 08683, xe đã qua sử dụng.  (Hai khoản).( BL: 01, 02 HS).

Hồi 20 giờ 00 phút cùng ngày tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành bóc mở niêm phong cân tịnh số bột màu trắng thu giữ được của HàVăn P, có trọng lượng là 0, 22g ( Không phẩy hai mươi hai gam), rút 0,05 gam ký hiệu P1 làm mẫu gửi giám định chất ma túy, còn 0, 17 gam ký hiệu P2 đã niêm phong nhập kho vật chứng. ( BL: 25 HS).

Tại Kết luận giám định Số: 601/ KLMT ngày 12/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:" Mẫu gửi giám định ký hiệu P1 là chất ma túy, loại chất Heroin, Trọng lượng của mẫu gửi giám định là 0,05 gam. Tổng trọng lượng chất ma túy thu được là 0,22 gam loại chất Heroin”. ( BL: 28 HS).

Bản cáo trạng số 139/KSĐT ngày 07/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đề nghị truy tố bị can Hà Văn P về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu giữ quyền công tố luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với Hà Văn P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Hà Văn P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội Việt Nam; khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Hà Văn P mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù giam. Được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam là 07 (bảy) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 194 BLHS cho bị cáo.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên Tịch thu tiêu hủy: 0,17 gam ( Không phẩy bẩy bảy gam) hê rô in đã được niêm phong trong một phong bì thư. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, lời khai, lời trình bày ý kiến của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án như: biên bản hỏi cung bị can; biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ, niêm phong, mở niêm phong vật chứng của vụ án để lấy mẫu giám định; kết luận giám định.

Lời nói sau cùng của bị cáo Hà Văn P: Nhất trí với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đề nghị truy tố, xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Nay bị cáo đã thực sự nhận ra lỗi lầm, bị cáo rất ân hận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo xin miễn hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Xét hành vi tàng trữ trái phép 0,22 gam hê rô in của bị cáo Hà Văn P thấy số lượng ma túy không lớn, bị cáo tàng trữ trái phép nhằm mục đích sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật. Bởi, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được hành vi mua, tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 như quan điểm truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu.

Tại Điều 194 BLHS 1999 quy định:

 “ 1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

 [3] Tuy Bộ luật hình sự năm 2015 chưa có hiệu lực pháp luật nhưng mức hình phạt đối với tội Tàng trữ trái phép ma túy thấp hơn, có lợi hơn cho bị cáo so với Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại Điều 249 BLHS 2015 quy định:

 “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

………………………….

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

……………………………

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Theo Nghị quyết 41/2017/QH13 ngày 20/6/2017 của Quốc hội Việt Nam; Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 đối với bị cáo Hà Văn P để xét xử theo hướng có lợi cho bị cáo, tạo cơ hội cho bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.

 [4] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý và là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Do đó cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 có mức hình phạt từ 01 đến 05 năm đối với bị cáo Hà Văn P.

 [5] Xét nhân thân bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu với lỗi cố ý trực tiếp thuộc trường hợp nghiêm trọng. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn phạm tội nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật trong việc đấu tranh với tệ nạn ma túy. Cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

 [6] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tàng trữ lượng ma túy không lớn, mục đích chỉ để sử dụng cho bản thân; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS.

 [7] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự 1999

 [8] Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 194 BLHS. Xét thấy bị cáo không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

 [9] Về vật chứng: 

Đối với 0,17 gam ( Không phẩy mười bảy gam) hê rô in đã được niêm phong trong một phong bì thư là vật Nhà nước cấm lưu hành; cần áp dụng dụng điểm a khoản 1 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe DREAM, màu sơn trắng – Đen, BKS: 26F2-5946, số khung : 00100034; số máy: 08683, xe đã qua sử dụng xác định là xe của anh Lường Văn Doan, sinh năm 1963, trú tại bản Pán II, xã Chiềng Ly. Thuận Châu, Sơn La . Việc P sử dụng xe máy của Doan vào việc Tàng trữ trái phép chất ma túy P bị bắt thì Doan không biết nên Cơ quan điều tra xét thấy chiếc xe máy trên không liên quan đến vụ án của P. Do vậy Công an Thuận Châu đã trao trả lại chiếc xe này cho Lường Văn Doan là có căn cứ.

 [10] Đối với người đàn ông tên là Tuấn ( Mẹ tên là Lệ) nhà ở TK 1 – thị trấn Thuận Châu – Sơn La là người mà P khai đã bán cho P 01(một) gói Heroin gói bằng ni lon màu hồng với giá 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) vào ngày 10/6/2017. Qua điều tra xác minh tại TK 1 – thị trấn Thuận Châu có một người tên là Nguyễn Anh Tuấn – sinh năm 1974 nhưng hiện nay Tuấn không có mặt tại địa phương, gia đình và chính quyền địa không biết Tuấn ở đâu. Do vậy Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra , xác minh làm rõ, nếu đủ căn cứ sẽ có hình thức xử lý sau.

 [11] Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội Việt Nam; khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo 14 (mười bốn) tháng tù, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam là 07 (bảy) ngày tù, còn lại 13 (mười ba) tháng 23 (hai mươi ba) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 194 BLHS cho bị cáo. 

3. Xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên Tịch thu tiêu hủy: 0,17 gam ( Không phẩy mười bảy gam) hê rô in đã được niêm phong trong một phong bì thư. Chấp nhận việc Cơ quan điều tra trả cho anh Lường Văn Doan, sinh năm 1963, trú tại bản Pán II, xã Chiềng Ly, Thuận Châu, Sơn La 01 chiếc chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe DREAM, màu sơn trắng – Đen, BKS: 26F2-5946, số khung : 00100034; số máy: 08683, xe đã qua sử dụng.

4. Án phí:

Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

5. Quyền kháng cáo

Áp dụng Điều 231, 234 BLTTHS năm 1999 báo cho bị cáo Hà Văn P được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.


81
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về