Bản án 17/2018/HNGĐ-ST ngày 27/08/2018 về tranh chấp ly hôn và nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 17/2018/HNGĐ-ST NGÀY 27/08/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ NUÔI CON

Ngày 27 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 112/2018/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2018/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phan Văn Bé B; sinh năm 1977; địa chỉ: Số nhà 148, ấp Ngãi Hội 2, thị trấn Đại Ngãi, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T; sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp Phụng An, xã Song Phụng, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Trong đơn khởi kiện lập ngày 15/5/2018 và tại phiên tòa nguyên đơn ông Phan Văn Bé B trình bày: Ông Phan Văn Bé B và bà Nguyễn Thị Thanh T tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2003 và được Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện P, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 101/2003, quyển số 01, ngày 22/12/2003. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian dài, đến tháng 6/2010 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên thường xuyên cải vã qua lại và cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, ông B và bà T sống ly thân từ tháng6/2010 cho đến nay, sau khi  sống ly thân thì ông B và bà T không có gặp nhau  để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong thời gian chung sống, ông B và bà T có 01 người con chung là Phan Thiên T, sinh ngày 08/7/2005 hiện nay sống chung với ông B; về tài sản chung và nợ chung không có.

Tại phiên tòa, ông Phan Văn Bé B yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh T; về con chung yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên và không yêu cầu bà T cấp dưỡng cho con chung; về tài sản chung và nợ chung không có nên ông B không yêu cầu gì.

- Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho bà T, nhưng bà T không có ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà T 02 lần để tham gia tố tụng tại phiên hòa giải nhưng bà T vẫn vắng mặt nên Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được. Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

- Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thâm phan , Thư ký , Hội đồng xét xử và nguyên đơn trong quá trhìn giải quyết vụ án kể từ khi thu ly vụ án đến trước thời điểm Hội đềng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy đinh cua phap luật về tố tụng dân sư. Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự . Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa xét thấy tình trạng của vợ chồng ông Phan Văn Bé B và bà Nguyễn Thị Thanh T đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điêu 39, Bộ luật Tố tụng dân sự; các khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Phan Văn Bé B; giao cháu Phan Thiên T cho ông B trực tiếp nuôi dưỡng, bà T không cấp dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà T.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, ông Phan Văn Bé B và bà Nguyễn Thị Thanh T tự nguyện kết hôn vào năm 2010 và được Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 101/2003, quyển số 01, ngày 22/12/2003 nên quan hệ hôn nhân giữa ông B và bà T là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, ông B có quyền yêu cầu  Tòa án giải quyết ly hôn. Xét lý do yêu cầu ly hôn của ông Phan Văn Bé B, Hội đồng xét xử xét thấy: Ông B cho rằng nguyên nhân do vợ chồng bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên thường xuyên cải vã qua lại nên cuộc sống không còn hạnh phúc và sau khi sống ly thân thì ông B và bà T không có gặp nhau để hàn gắn tình cảm. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để động viên vợ chồng ông B và bà T đoàn tụ với nhau, nhưng bà T vẫn vắng mặt và ông B vẫn kiên quyết ly hôn với bà T vì tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy, tình trạng của vợ chồng ông B và bà T đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc ông B xin ly hôn với bà T là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông B được ly hôn với bà T.

[3] Về con chung: Ông Phan Văn Bé B xác định trong thời gian chung sống, ông B và bà Nguyễn Thị Thanh T có 01 người con chung là Phan Thiên T, sinh ngày 08/7/2005; ông B yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T đến khi thành niên. Xét thấy, từ khi ông B và bà T sống ly thân cho đến nay cháu T do ông B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và ông B khẳng định đủ điều kiện để chăm sóc tốt cho cháu T; đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án khi ghi nhận ý kiến của cháu T thì cháu có nguyện vọng được sống chung với ông B. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu T, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải giao cháu T cho ông B trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu T. Ngoài ra, căn cứ vào khoản 3 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho bà T mà không ai được cản trở.

[4] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Ông Phan Văn Bé B khẳng định đủ điều kiện để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phan Thiên T và không yêu cầu bà Nguyễn Thị Thanh T cấp dưỡng cho con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Ông Phan Văn Bé B xác định trong thời gian chung sống ông B và bà Nguyễn Thị Thanh T không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Phan Văn Bé B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị Thanh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều m39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Phan Văn Bé B và bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn.

[2] Về con chung: Giao cháu Phan Thiên T, sinh ngày 08/7/2005 cho ông Phan Văn Bé B trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên; bà Nguyễn Thị Thanh T không phải cấp dưỡng cho con chung; dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho bà T mà không ai được cản trở.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: Ông Phan Văn Bé B xác định trong thời gian chung sống ông B và bà Nguyễn Thị Thanh T không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phan Văn Bé B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ông B đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003102 ngày 15/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, ông Phan Văn Bé B đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị Thanh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2018/HNGĐ-ST ngày 27/08/2018 về tranh chấp ly hôn và nuôi con

Số hiệu:17/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Phú - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:27/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về