Bản án 16/2021/HS-ST ngày 03/02/2021 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 16/2021/HS-ST NGÀY 03/02/2021 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Ngày 03 tháng 02 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điên Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2020/TLST-HS ngày 13/11/2020, Quyết định tạm đình chỉ vụ án số 01/2021/HSST-QĐ ngày 11/01/2021, Quyết định phục hồi vụ án số 02/2021/HSST-QĐ ngày 25/01/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2021/QĐXXST-HS ngày 25/01/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Sùng A C; sinh năm 1942 tại huyện T, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản M4, xã T, huyện N, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Sùng A X (đã chết) và bà Giàng Thị M (đã chết); Bị cáo có vợ là Giàng Thị M và 06 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/8/2020, sau đó tạm giam từ ngày 19/8/2020, đến ngày 22/8/2020 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh; ngày 24/01/2021 bị bắt, tạm giữ theo quyết định truy nã của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Điện Biên, sau đó bị tạm giam từ ngày 25/01/2021 cho tới nay, có mặt.

Ngưi bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị Thúy An, sinh năm 1988 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 00 phút, ngày 16/8/2020, tổ công tác Đồn biên phòng H phối hợp với Công an huyện N làm nhiệm vụ tại khu vực bản S, xã H, huyện N, tỉnh Điện Biên phát hiện Sùng A C đang đi bộ có biểu hiện vi phạm pháp luật nên đã yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Sau đó, Sùng A C đã tự giác lấy trong túi áo ngực bên phải 02 gói nhỏ được gói bằng nilon màu trắng, trong đó có 01 gói chứa 02 cục chất bột dạng nén màu trắng đục và 01 gói chứa 03 viên nén màu hồng trên mặt mỗi viên nén đều có ký hiện là WY. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ 02 gói vật chứng nêu trên. Tổ công tác đã đưa người bị bắt và vật chứng về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N để điều tra làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại cơ quan điều tra Sùng A C khai nhận: 01 gói nilon màu trắng chứa 02 cục chất bột dạng nén màu trắng đục là Heroine và 01 gói nilon màu trắng chứa 03 viên nén màu hồng trên mặt mỗi viên nén đều có ký hiện là WY là ma túy tổng hợp đều là của Sùng A C. Nguồn gốc Heroine là do Sùng A C mua của 01 người đàn ông không quen biết với giá 200.000 đồng, còn 03 viên ma túy tổng hợp là Sùng A C xin thêm ông ta vào sáng ngày 16/8/2020 tại khu vực biên giới Việt Nam – Lào thuộc địa phận bản S, xã H, huyện N, tỉnh Điện Biên. Sùng A C mua Heroine và xin ma túy tổng hợp với mục đích tàng trữ sử dụng cho bản thân vì C là người nghiện ma túy. Sau khi mua được ma túy, Sùng A C cất giấu trong túi áo ngực đang mặc rồi đi bộ về nhà ở bản Mốc 4, xã T, huyện N. Đến 14 giờ 00 phút ngày 16/8/2020 khi đang đi bộ tới bản S, xã H thì bị tổ công tác Đồn biên phòng H và Công an huyện N phát hiện, bắt quả tang.

Tại Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 17/8/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N xác định: Gói vật chứng chứa chất bột dạng nén màu trắng đục có khối lượng là 1,43 (một phẩy bốn mươi ba) gam, gửi giám định 0,02 (không phẩy không hai) gam, còn lại 1,41 (một phẩy bốn mươi mốt) gam; gói vật chứng có chứa 03 viên nén màu hồng đều in chữ WY có khối lượng 0,29 (không phẩy hai mươi chín) gam, lấy 01 viên có khối lượng 0,09 (không phẩy không chín) gam gửi giám định, còn lại 0,2 (không phẩy hai) gam.

Tại Bản kết luận giám định số: 804/GĐ-PC09, ngày 27/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận:

“- Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Sùng A C gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.

- Mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Sùng A C gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine.

- Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018.

- Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 323, Mục IIC, Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018.

- Không hoàn lại đối tượng giám định".

Tại bản Cáo trạng số: 59/CT-VKSNP ngày 12/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Sùng A C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Sùng A C đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Sùng A C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm o, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Sùng A C từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 1,41 (một phẩy bốn mươi mốt) gam Heroine và 0,2 (không phẩy hai) gam Methamphetamine còn lại sau khi lấy mẫu giám định, cùng toàn bộ nilon, phong bì niêm phong cũ. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Sùng A C nhất trí với luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật, mức hình phạt và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nguyên nhân, hoàn cảnh phạm tội của bị cáo, áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm o, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên; Đề nghị miễn hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo Sùng A C nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của người bào chữa, không tranh luận gì. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố đối với bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Sùng A C thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình: Vào hồi 14 giờ 00 phút, ngày 16/8/2020, Sùng A C có hành vi tàng trữ trái phép 1,43 (một phẩy bốn mươi ba) gam Heroine và 0,29 (không phẩy hai mươi chín) gam Methamphetamine. Số Heroine và Methamphetamine nói trên được Sùng A C gói bằng nilon màu trắng cất giấu trong túi áo ngực bên phải đang mặc khi đang đi bộ ở khu vực bản S, xã H, huyện N, tỉnh Điện Biên. Mục đích bị cáo tàng trữ trái phép Heroine và Methamphetamine là để sử dụng cho bản thân vì bị cáo là người nghiện ma túy. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Bị cáo Sùng A C tàng trữ 02 chất ma túy là Heroine và Methamphetamine đều được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Căn cứ Nghị định số 19/2018/NĐ-CP, ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 thì tổng khối lượng 02 chất ma túy mà bị cáo Sùng A C tàng trữ là 1,72 (một phẩy bẩy mươi hai) gam thuộc khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Sùng A C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:… i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này…”.

[2] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn xã H, huyện N vì ma túy không chỉ gây hủy hoại sức khỏe của con người mà còn là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, không bị ai xúi giục. Do đó, cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, để bị cáo có điều kiện cải tạo bản thân trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời làm gương răn đe giáo dục các đối tượng khác đang và đã có hành vi như bị cáo nhưng chưa bị phát hiện, xử lý.

[3] Về nhân thân: Bị cáo Sùng A C xuất thân trong gia đình nông dân nhưng không chịu lao động, sống buông thả nên đã nghiện ma túy từ khi còn trẻ. Ngoài lần phạm tội này, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người già yếu nên được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh. Tuy nhiên, trong thời gian bị áp dụng biện pháp bảo lĩnh bị cáo đã bỏ trốn, sau đó bị bắt vào ngày 24/01/2021 theo quyết định truy nã số 01, ngày 11/01/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Khi bị bắt giữ bị cáo luôn thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Tại phiên tòa, bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo sinh năm 1942 hiện đã 79 tuổi, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo là người nghiện ma túy, nghề nghiệp chính là làm nương, bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, hiện tại tuổi đã cao, sức yếu không còn khả năng lao động (Biên bản xác minh ngày 18/8/2020 và 21/8/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N) nên bị cáo không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định: Tịch thu tiêu hủy vật chứng là Heroine và Methamphetamine còn lại sau khi trừ mẫu giám định cùng toàn bộ nilon, phong bì niêm phong cũ.

[7] Xét đề nghị của người bào chữa: Tại phiên tòa người bào chữa nhất trí với luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm o, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự và các tình tiết khác, xử phạt bị cáo mức thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên và miễn hình phạt bổ sung, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo tàng trữ 02 chất ma túy có tổng khối lượng là 1,72 gam, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên có thể xử phạt bị cáo dưới mức đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên và người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[9] Trong vụ án Sùng A C khai nhận đã mua Heroine và Methamphetamine của 01 người đàn ông vào sáng ngày 16/8/2020 tại khu vực biên giới thuộc địa phận bản S, xã H, huyện N, tỉnh Điện Biên. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này ở đâu nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không có căn cứ để điều tra, làm rõ xử lý theo quy định, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Tại phiên tòa bị cáo và người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là dân tộc thiểu số (dân tộc Mông) sống tại xã T, huyện N, tỉnh Điện Biên là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[11] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm o, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sùng A C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Sùng A C 20 (hai mươi) tháng tù. Khấu trừ thời hạn bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2020 đến ngày 22/8/2020 là 07 (bảy) ngày, bị cáo còn phải chấp hành 19 (mười chín) tháng 23 (hai mươi ba) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 24/01/2021.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 1,41 (một phẩy bốn mươi mốt) gam Heroine và 0,2 (không phẩy hai) gam Methamphetamine cùng toàn bộ nilon, phong bì niêm phong cũ.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/11/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện N)

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sùng A C.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Sùng A C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 03/02/2021.


15
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về