Bản án 15/2020/HS-ST ngày 07/05/2020 về tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH 

BẢN ÁN 15/2020/HS-ST NGÀY 07/05/2020 VỀ TỘI SỬ DỤNG TÀI LIỆU GIẢ CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC 

Ngày 07 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2020/TLST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Tr Tr H, sinh ngày: 13 tháng 7 năm 1985 tại: Xã Th H, huyện T H, tỉnh Qu B. Nơi cư trú: Tiểu khu L Th, thị trấn Đ L, huyện T H, tỉnh Qu B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tr X H và bà Ng Th H; có vợ là Đ Th Th H và 02 người con; tiền sự: Không; tiền án: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/02/2020 cho đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Đ T Đ (có mặt)

Địa chỉ: Thôn Y Đ, xã Y H, huyện M H, tỉnh Qu B

Anh Đ T D (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Y Đ, xã Y H, huyện M H, tỉnh Qu B

- Người làm chứng: Anh Đ M Ph (có mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ S, xã S H, huyện T H, tỉnh Qu B

Chị Đ Th Th H (có mặt)

Địa chỉ: Tiểu khu L Th, thị trấn Đ L, huyện T H, tỉnh Qu B

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 9 năm 2015, Đ M Ph, ở xã S H, huyện T H, tỉnh Qu B được Tr Tr H là anh rể và chị gái là Đ Th Th H nhờ đứng tên trong hồ sơ để vay số tiền 934.000.000 đồng tại Ngân hàng VP Bank chi nhánh Đ H. Sau khi vay được số tiền trên, H sử dụng và mua chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu TMT, xe mang biển kiểm soát: 73C – 048.., giấy đăng ký xe đứng tên Đ M Ph. H dùng giấy đăng ký xe trên thế chấp tại Ngân hàng VP Bank chi nhánh Đ H, còn xe ô tô sau khi mua về do vợ chồng H quản lý và sử dụng. Trong quá trình sử dụng xe ô tô nói trên để vận chuyển xi măng tại nhà máy xi măng S Gi, do nhà máy bắt buộc phải có giấy đăng ký xe ô tô gốc mới cho nhận hàng tại nhà máy. Vì giấy đăng ký xe ô tô biển kiểm soát: 73C – 048.. đang thế chấp tại Ngân hàng nên H đã nhờ một người đàn ông tên D2 ở huyện C X, tỉnh H T làm giả giấy đăng ký xe ô tô biển kiểm soát: 73C – 048.. để sử dụng vận chuyển hàng hóa. Quá trình làm ăn do thua lỗ dẫn đến thiếu tiền trả nợ nên tháng 3 năm 2017, H đã liên hệ với Đ T D, trú tại Tiểu khu 1, thị trấn Qu Đ, huyện M H, tỉnh Qu B xin thế chấp xe ô tô biển kiểm soát 73C – 048.. cùng giấy đăng ký giả đó cho D để vay số tiền 318.000.000 đồng. Khi được D đồng ý, H đã bảo Ph đến ký tên vào giấy để vay tiền. Việc H sử dụng giấy tờ giả để vay tiền của Đ T D thì Ph không biết. Hết thời hạn một tháng theo thỏa thuận nhưng H không trả tiền, nên ngày 04/4/2017, Đ T D đã chuyển xe ô tô và toàn bộ giấy tờ liên quan tới cầm cố tài sản cho ông Đ T Đ (là bố đẻ của D), do số tiền anh D cho H vay là của ông Đ T Đ.

Quá trình điều tra, Tr Tr H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại bản kết luận giám định số 908/PC09(GĐ) ngày 28/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, kết luận: Giấy đăng ký xe ô tô số 004246 do ông Cao Tiến Lê cán bộ Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa cung cấp theo Quyết định trưng cầu giám định số: 46/QĐ ngày 14/10/2019 của Công an huyện Minh Hóa là thật.

Tại bản kết luận giám định số 965/PC09 (GĐ) ngày 20/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, kết luận: Giấy đăng ký xe ô tô số 004246 do chị Đ Th Th H cung cấp theo Quyết định trưng cầu giám định số 57/QĐ ngày 13/11/2019 của Công an huyện Minh Hóa là giả.

Về trách nhiệm dân sự: Việc vay mượn tiền giữa Tr Tr H và ông Đ T Đ hai bên thỏa thuận tự giải quyết, không yêu cầu pháp luật giải quyết.

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Minh Hóa tạm giữ:

- 01 xe ô tô tải màu xanh có mui, nhãn hiệu TMT Kc 340220TMB, số máy YC6L340-33*L3EL1F00130*, số khung RRT25022TF1A00034, biển kiểm soát 73C – 048... Xe cũ đã qua sử dụng, bánh xe hàng thứ ba tính từ trước ra sau bên phụ bị tháo rời khỏi xe, chỉ còn lại đầu trục;

- 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật phương tiện và bảo vệ môi trường số 4561467;

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 004246, tên chủ xe: Đ M Ph, địa chỉ: L Th, Đ L, T H, biển số đăng ký: 73C – 048.. (Là giấy tờ giả);

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 004246, tên chủ xe: Đ M Ph, địa chỉ: L Th, Đ L, T H, biển số đăng ký: 73C – 048.. (Là giấy tờ thật).

Cáo trạng số 13/CT-VKSMH ngày 13/4/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá quyết định truy tố bị cáo Tr Tr H về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố cũng như đề nghị Hội đông xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Tr Tr H từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.

Căn cứ vào kết quả thẩm vấn công khai tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; lời khai của những người tham gia tố tụng tại phiên toà; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại phiên toà bị cáo đã nhất trí hoàn toàn với nội dung bản Cáo trạng đã được đại diện Viện kiểm sát công bố và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với các lời khai của những người tham gia tố tụng, qua đó cho thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Minh Hóa, Viện kiểm sát huyện Minh Hóa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi của bị cáo: Vào ngày 03/3/2017, tại nhà của anh Đ T D tại Tiểu khu 1, thị trấn Qu Đ, huyện M H, tỉnh Qu B, Tr Tr H sử dụng giấy đăng ký xe ô tô giả để cầm cố một xe ô tô tải hiệu TMT, biển kiểm soát 73C – 048.. để vay của anh Đ T D số tiền 318.000.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo Tr Tr H đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ đã được kiểm tra tại phiên tòa. Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa đưa ra quan điểm xét xử vụ án là có căn cứ nên chấp nhận. Do đó Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Tr Tr H phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” được quy định tại khoản 1 điều 341 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Xét tính chất hành vi, hậu quả do bị cáo gây ra vụ án cho thấy: Đây là hành vi phạm tội có tính chất nguy hiểm trong xã hội. Vì vậy hành vi trên cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm minh nhằm trừng trị, cải tạo thành người tốt và răn đe, giáo dục chung trong xã hội.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nhân thân: Bị cáo Tr Tr H có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Tình tiết tăng nặng: không có tình tiết tăng nặng Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, thấy được lỗi lầm của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo là lao động chính trong gia đình hiện đang nuôi hai con nhỏ có giấy xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo H ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự để cho bị cáo cải tạo tại địa phương là đủ tính răn đe và cho bị cáo thấy được tính khoản hồng của Pháp luật Nhà nước.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Việc vay mượn tiền giữa Tr Tr H và ông Đ T Đ hai bên thỏa thuận tự giải quyết, không yêu cầu pháp luật giải quyết. nên miễn xem xét.

[7] Vật chứng vụ án:

Căn cứ Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 004246, tên chủ xe: Đ M Ph, địa chỉ: L Th, Đ L, T H, biển số đăng ký: 73C – 048... Được cho vào phong bì niêm phong, dán kín, có chữ ký niêm phong của những người có tên là Phan Ngọc Toản, Đinh Đức Tâm và dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình. Theo quyết định trưng cầu giám định số 57/QĐ ngày 13/11/2019 là giấy tờ giả.

Căn cứ Khoản 3 Điều 106 BLTTHS chuyển cho cơ quan Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa để xử lý theo quy định của pháp luật: 01 Xe ô tô tải màu xanh có mui, nhãn hiệu TMT Kc 340220TMB, số máy YC6L340-33*L3EL1F00130*, số khung RRT25022TF1A00034, biển kiểm soát 73C – 048.... Xe cũ đã qua sử dụng, bánh xe hàng thứ ba tính từ trước ra sau bên phụ bị tháo rời khỏi xe, chỉ còn lại đầu trục; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 004246, tên chủ xe: Đ M Ph, địa chỉ: L Th, Đ L, T H, biển số đăng ký: 73C – 048... Được cho vào phong bì niêm phong, dán kín, có chữ ký niêm phong của những người có tên là Phan Ngọc Toản, Đinh Đức Tâm và dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình (Là giấy tờ thật). Theo quyết định trưng cầu giám định số 46/QĐ ngày 14/10/2019; 01 Giấy chứng nhận đăng kiểm định an toàn kỹ thuật phương tiện và bảo vệ môi trường số 4561467.

Số vật chứng trên đã được chuyển giao và hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hóa theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/4/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Minh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa.

[7] Về hình phạt bổ sung: không.

[8] Đối với Đ M Ph là người đứng tên trong hợp đồng cầm cố và trong giấy đăng ký xe ô tô. Tuy nhiên, Ph không biết việc H sử dụng giấy tờ giả để cầm cố vay 318.000.000 đồng của anh D nên không xem xét hành vi của Ph.

Trong vụ án này còn có người đàn ông tên D2 làm giấy tờ giả giúp cho H. Tuy nhiên H không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan CSĐT không thể điều tra, không xác định được đối tượng trên nên không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo Tr Tr H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Tr Tr H phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”

Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Tr Tr H.

Xử phạt bị cáo Tr Tr H 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 14 (Mười bốn ) tháng kể từ ngày 07/5/2020. Giao bị cáo cho UBND thị trấn Đ L, huyện T H, tỉnh Qu B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Tr Tr H không quá thời hạn từ khi tuyên án cho đến khi bị cáo đi chấp hành án.

2. Về vật chứng vụ án:

- Căn cứ Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 004246, tên chủ xe: Đ M Ph, địa chỉ: L Th, Đ L, T H, biển số đăng ký: 73C – 048... Được cho vào phong bì niêm phong, dán kín, có chữ ký niêm phong của những người có tên là Phan Ngọc Toản, Đinh Đức Tâm và dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình. Theo quyết định trưng cầu giám định số 57/QĐ ngày 13/11/2019 là giấy tờ giả.

- Căn cứ Khoản 3 Điều 106 BLTTHS chuyển cho cơ quan Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa để xử lý theo quy định của pháp luật: 01 Xe ô tô tải màu xanh có mui, nhãn hiệu TMT Kc 340220TMB, số máy YC6L340-33*L3EL1F00130*, số khung RRT25022TF1A00034, biển kiểm soát 73C – 048.99. Xe cũ đã qua sử dụng, bánh xe hàng thứ ba tính từ trước ra sau bên phụ bị tháo rời khỏi xe, chỉ còn lại đầu trục; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 004246, tên chủ xe: Đ M Ph, địa chỉ: L Th, Đ L, T H, biển số đăng ký: 73C – 048... Được cho vào phong bì niêm phong, dán kín, có chữ ký niêm phong của những người có tên là Phan Ngọc Toản, Đinh Đức Tâm và dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình (Là giấy tờ thật). Theo quyết định trưng cầu giám định số 46/QĐ ngày 14/10/2019; 01 Giấy chứng nhận đăng kiểm định an toàn kỹ thuật phương tiện và bảo vệ môi trường số 4561467.

Số vật chứng trên đã được chuyển giao và hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hóa theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/4/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Minh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa ánbuộc bị cáo Tr Tr H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/5/2020), bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở UBND xã nơi cư trú để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử theo trình tự phúc thẩm.


30
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 15/2020/HS-ST ngày 07/05/2020 về tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

Số hiệu:15/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Minh Hóa - Quảng Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 07/05/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về