Bản án 15/2018/HNGĐ-ST ngày 27/02/2018 về ly hôn và tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 15/2018/HNGĐ-ST NGÀY 27/02/2018 VỀ LY HÔN VÀ TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 27 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã T tiến hành phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 374/2017/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng  10 năm 2017 về việc: Ly hôn và tranhchấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2018/QĐXXST- HNGĐ  ngày 18/01/2018  và Quyết định hoãn phiên tòa 12/2018/QĐST-HNGĐ ngày 07/02/2018, giữa các Đ sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị N, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ 3, khu phố P, phường H, thị xã T, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Bị đơn: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ 3, khu phố P,phường H, thị xã T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/9/2017, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đặng Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị N và ông Trần Văn Đ tự nguyện tìm hiểu, được cha mẹ hai bên đồng ý và đăng ký kết hôn ngày 22/07/2008 tại Uỷ ban nhân dân phường D, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại khu phố 3, phường D, thành phố B, tỉnh Đồng Nai được 05 năm. Đến năm 2013, vợ chồng chuyển đến tỉnh Bình Dương lập nghiệp và sinh sống tại khu phố P, phường H, thị xã T, tỉnh Bình Dương.

Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 02 năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông Đ chơi cờ bạc gây nợ liên tục. Ông Đ không phụ giúp bà N chăm lo cho các con và chi phí sinh hoạt trong gia đình. Vào năm 2010, ông Đ thiếu tiền nhiều người do thua tiền đánh bạc nên gia đình cũng vì thế mà lâm vào cảnh khó khăn, thiếu thốn. Ông Đ cũng đã hứa từ bỏ bài bạc, chăm chỉ làm ăn để chăm lo cho gia đình nhiều lần nhưng vẫn không thay đổi mà tiếp tục chơi đánh bạc gây ra nhiều khoản nợ.

Bà N nhận thấy trong thời kỳ hôn nhân, ông Đ không quan tâm, thiếu trách nhiệm với vợ con. Ông Đ thường xuyên chơi cờ bạc và gây nợ nần cho gia đình. Do tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu được ly hôn với ông Trần Văn Đ.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên Trần Minh Hoàng Y, sinh ngày 21/6/2010 và Trần Minh Hoàng A, sinh ngày 04/5/2016. Sau khi ly hôn bà Đặng Thị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông Trần Văn Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyên đơn đã cung cấp các tài liệu chứng cứ sau:

+ Bản chính Giấy chứng nhận kết hôn;

+ Bản sao Giấy khai sinh mang tên Trần Minh Hoàng Y và Trần Minh Hoàng A;

+ Bản photocopy Chứng minh nhân dân mang + bản sao sổ hộ khẩu mang tên Đặng Thị N;

+ Bản photocopy chứng minh nhân dân mang tên Trần Văn Đ.

Bị đơn ông Trần Văn Đ được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng tại Tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Theo biên bản xác minh ngày 07/12/2017 tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã T, tỉnh Bình Dương thì ông Trần Văn Đ có sinh sống và đăng ký thường trú tại địa chỉ: Tổ 3, khu phố P, phường H, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Về mâu thuẫn của vợ chồng cũng như yêu cầu nuôi con chung thì đại diện chính quyền địa phương không nhận được tin báo hay đơn yêu cầu giải quyết mâu thuẫn của Đ sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã T phát biểu tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và Đ sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã T.

Về nội dung: Bà Đặng Thị N và ông Trần Văn Đ tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 174, quyển số I/2008, ngày 22/7/2008)

Bà Đặng Thị N yêu cầu ly hôn vì ông Trần Văn Đ chơi đánh bạc, không lo làm ăn, không chăm lo cuộc sống gia đình. Bà N yêu cầu được quyền nuôi con phù hợp với nguyện vọng của cháu Trần Minh Hoàng Y; về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, nợ chung bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà N.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về quan hệ pháp luật và Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Đặng Thị N có đơn khởi yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn Đ và yêu cầu được quyền nuôi con sau khi ly hôn nên đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Ông Trần Văn Đ có sinh sống và đăng ký thường trú tại địa chỉ: Tổ 3, khu phố P, phường H, thị xã T, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã T theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về tố tụng: Ông Trần Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 30/10/2017 và 18/12/2017 nhưng ông Đ vắng mặt không lý do. Tòa án triệu tập hợp lệ ông Trần Văn Đ tham gia phiên tòa lần thứ nhất vào ngày 07/02/2018 nhưng ông Đ vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập ông Đ tham gia phiên tòa vào ngày 27/02/2018 nhưng ông Đ vắng mặt không có lý do là ông Đ đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình tại Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ để giải quyết vụ án vắng mặt ông Đ theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị N và ông Trần Văn Đ là những người đủ điều kiện kết hôn; chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu để tiến tới hôn nhân; có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 174, quyển số I/2008, ngày 22/7/2008), đây là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 02 năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Do tình cảm vợ chồng không còn, ông bà không thể tiếp tục chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Ông Trần Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, điều này cho thấy ông Đ hoàn toàn không có thiện chí để Tòa án hòa giải vợ chồng đoàn tụ cùng nhau xây dựng gia đình. Xét, mâu thuẫn giữa bà N và ông Đ đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà Đặng Thị N yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn Đ là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

[4]. Về con chung: Bà N và ông Đ có 02 con chung tên Trần Minh Hoàng Y, sinh ngày 21/6/2010 và Trần Minh Hoàng A, sinh ngày 04/5/2016. Sau khi ly hôn bà Đặng Thị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Trần Minh Hoàng Y và Trần Minh Hoàng A, không yêu cầu ông Trần Văn Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung.  Tại Bản tự khai ngày 30/10/2017, cháu Trần Minh Hoàng Y có nguyện vọng được ở cùng với bà N và cháu Trần Minh Hoàng A, sinh ngày 04/5/2016 dưới 36 tháng tuổi. Xét thấy, bà N tự nguyện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con và phù hợp với nguyện vọng của cháu Yến không trái đạo đức xã hội và phù hợp quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.” nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5]. Về tài sản chung, nợ chung: Các Đ sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6]. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiền tòa là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.

[7]. Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 146, 147, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị N về việc Ly hôn và tranh chấp về nuôi con với ông Trần Văn Đ như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị N được ly hôn với ông Trần Văn Đ.

- Về con chung: Giao con chung tên Trần Minh Hoàng Y, sinh ngày 21/6/2010 và Trần Minh Hoàng A, sinh ngày 04/5/2016 cho bà Đặng Thị N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Trần Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Trần Văn Đ và bà Đặng Thị N đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Ông Đ được quyền đi lại thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp ông Đ lạm dụng quyền đi lại thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông Đ. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các Đ sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

2. Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Bà Đặng Thị N phải nộp300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0013275, ngày 20/9/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T.

3. Về quyền kháng cáo: Bà Đặng Thị N có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Trần Văn Đ vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.


48
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 15/2018/HNGĐ-ST ngày 27/02/2018 về ly hôn và tranh chấp nuôi con

Số hiệu:15/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Uyên - Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:27/02/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về