Bản án 15/2017/DS-ST ngày 28/07/2017 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 15/2017/DS-ST NGÀY 28/07/2017 VỀ TRANH CHÁP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI

Trong ngày 28/7/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số 48/2017/TLST-DS ngày08/6/2017, về việc “Tranh chấp Hợp đồng góp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2017/QĐST-DS ngày 13/7/2017 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: La Mỹ Ph, sinh năm: 1966, địa chỉ số 502, ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

* Bị đơn: Nguyễn Ngọc A; Sinh năm: 1959, địa chỉ số 024, ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện do bà La Mỹ Ph lập ngày 23/5/2017 cũng như quátrình giải quyết vụ án tại tòa, nguyên đơn bà La Mỹ Ph trình bày như sau: Bà và bà Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1959 là hàng xóm, quen biết nhiều năm. Bà A là chủ hụi theo hình thức có lập sổ hụi, nhưng không cấp sổ cho hụi viên mà bà A tự quản lý sổ hụi để theo dõi. Vào ngày 18/5/2015, bà Ph tham gia dây hụi 10ngày mở hụi một lần do bà A làm chủ hụi, mỗi phần hụi là 1.000.000 đồng, dây hụi có 34 phần, bà Ph tham gia 02 phần. Từ ngày 18/5/2015 đến ngày 17/02/2016, bà Ph đã đóng tiền hụi cho bà A số tiền vốn gốc là 48.200.000 đồng. Ngày 26/02/2016, bà A bỏ đi khỏi địa phương nên vỡ hụi và đến nay bà A chưa thanh toán tiền hụi cho Ph. Nay bà Ph yêu cầu bà A hoàn trả khoản nợ hụi gốc với số tiền là 48.200.000 đồng.

* Theo biên bản lấy lời khai đương sự ngày 04/7/2017, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn Nguyễn Ngọc A trình bày như sau: Bà A thống nhất xác định có việc tổ chức góp hụi và hiện nay bà còn nợ hụi bà Ph số tiền là 48.200.000 đồng như phía nguyên đơn trình bày là đúng. Nay bà A thống nhất hoàn trả cho bà Ph khoản nợ gốc là 48.200.000 đồng. Tuy nhiên, do hoàn cảnh kinh tế gặp khó khăn nên bà A xin trả nợ dần cho bà Ph.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử,Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về việc giải quyết vụ án: Qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng Điều 479 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

+ Xử buộc bà Nguyễn Ngọc A hoàn trả cho bà La Mỹ Ph khoản nợ gốc với số tiền là 48.200.000 đồng và chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[2] Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn: Ngày 30/5/2017, Tòa án nhân dân huyện Trần Đề nhận được đơn khởi kiện của bà La Mỹ Ph lập ngày23/5/2017 cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo do bà Ph nộp trực tiếp tại Tòa án. Ngay sau khi nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án thực hiện thủ tục nhận, xử lý đơn khởi kiện bà Ph và thụ lý vụ án theo đúng quy định tại các điều 191 và 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 23/5/2017, bà Ph yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng góp hụi với bà Nguyễn Ngọc A có nơi cư trú tại số 024, ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Trần Đề thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

[4] Xét yêu cầu của phía nguyên đơn bà La Mỹ Ph yêu cầu bị đơn Nguyễn Ngọc A hoàn trả khoản nợ hụi gốc với số tiền là 48.200.000 đồng:

[5] Bà Ph và bà A đều xác định: Bà Ph có tham gia dây hụi do bà A làm chủ mở vào ngày 18/5/2015, hụi 10 ngày/kỳ, mỗi phần hụi là 1.000.000 đồng, bà Ph tham gia 02 phần và đã đóng tiền hụi cho bà A số tiền là 48.200.000 đồng thì vỡ hụi. Hiện nay, bà A còn nợ bà Ph khoản nợ hụi gốc là 48.200.000 đồng. Theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Như vậy, việc bà Ph và bà A có hợp đồng góp hụi và hiện nay bà A còn nợ tiền hụi gốc của bà Ph với số tiền là 48.200.000 đồng là có thật. Khi giao kết hợp đồng góp hụi, bà Ph và bà A là những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, giao kết hợp đồng dựa trên cơ sở tự nguyện của hai bên, mục đích và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, nên công nhận đây là hợp đồng góp hụi hợp pháp theo quy định tại các điều 122, 389, 401 và 479 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, phía bà A đã có lỗi khi đơn phương chấm dứt hợp đồng (bà A bỏ đi khỏi địa phương nên vỡ hụi). Do đó, căn cứ vào Điều 426 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và các điều 26 và 14 của Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường, yêu cầu của bà Ph đòi bà A hoàn trả khoản nợ hụi gốc với số tiền là 48.200.000 đồng là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về đề nghị của bà A xin trả dần khoản nợ hụi cho bà Ph, nhưng bà Ph không đồng ý và bà A không đưa ra thời gian và phương thức để trả nợ. Xét đề nghị này không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốchội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà La Mỹ Ph được Tòa án chấp nhận nên bị đơn Nguyễn Ngọc A chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là2.410.000 đồng (48.200.000 đồng x 5% = 2.410.000 đồng).

[8] Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1Điều 39, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;các điều 122, 389, 401, 479 và 426 của Bộ luật Dân sự năm 2005; các điều 26 và14 của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụQuốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

* Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà La Mỹ Ph về việc yêu cầu bàNguyễn Ngọc A trả khoản nợ hụi. Buộc bà Nguyễn Ngọc A có trách nhiệm hoàn trả cho bà La Mỹ Ph khoản nợ hụi gốc với số tiền là 48.200.000 đồng (Bốn mươi tám triệu hai trăm ngàn đồng).

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Nguyễn Ngọc A chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.410.000 đồng (Hai triệu bốn trăm mười ngàn đồng).

- Bà La Mỹ Ph không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho bà La Mỹ Ph số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 1.205.000 đồng (Một triệu hai trăm lẻ năm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006340 ngày 07/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

3. Về nghĩa vụ thi hành án:

- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án dân sự có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


76
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 15/2017/DS-ST ngày 28/07/2017 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

Số hiệu:15/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Đề - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về