Bản án 143/2018/HNGĐ-ST ngày 26/09/2018 về tranh chấp hôn nhân gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 143/2018/HNGĐ-ST NGÀY 26/09/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Trong ngày 26 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 183/2017/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 203/2018/QĐXX-ST ngày 13/8/2018, Quyết định hoãn phiên toà số 210/2018/QĐ-ST ngày 22/8/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hồ Thanh Hằng; sinh năm 1991; Hộ khẩu thường trú: Số 65A Trần Quốc Toản, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; hiện ở: Số 114 phố Mai Hắc Đế, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội; có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh Tùng; sinh năm 1986; Hộ khẩu thường trú: Tổ 04 phường Hoà Thuận Đông, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; hiện ở: Room 101, 1-4-13 Misori-cho, Koganei-shi, Tokyo, Nhật Bản; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn và trình bày tại Toà án của chị Hồ Thanh Hằng trình bày:

Tôi và anh Nguyễn Thanh Tùng lấy nhau có đăng ký kết hôn ngày 26/7/2012 tại Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản (Giấy chứng nhận kết hôn số 09, quyển số 01/2012). Sau khi kết hôn chúng tôi đã sinh sống tại Tokyo, Nhật Bản. Sau đó chúng tôi về Việt Nam và sống ở nhà của bố mẹ tôi tại số 114 Mai Hắc Đế, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Do tính chất công việc, chồng tôi đã quay lại Nhật Bản sống. Ba mẹ con tôi hiện vẫn đang sinh sống tại địa chỉ: 114 Mai Hắc Đế, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống, tôi và anh Tùng khác nhau về quan điểm sống, không hoà hợp được. Đến nay, tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống gia đình không hạnh phúc, nên tôi đề nghị quý toà án giải quyết cho tôi được ly hôn.

Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là: Cháu Nguyễn Bảo Nguyên sinh ngày 11/01/2013 và cháu Nguyễn Bảo Trân sinh ngày 13/3/2016. Sau khi ly hôn, nguyện vọng của tôi được chăm sóc và nuôi dưỡng cả hai cháu. Tôi không đề nghị anh Tùng phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, nhà ở và nợ chung: Tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.

Phía anh Nguyễn Thanh Tùng: Sau khi thụ lý vụ án, ngày 12/12/2017, Toà án nhân dân thành phố Hà Nọi đã có Công văn số 2943/CV-TA về việc uỷ thác tống đạt, niêm yết lần 1 các văn bản: Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ngày 31/01/2018, Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản đã có triệu tập đương sự và niêm yết công khai. Anh Tùng vắng mặt, không có ý kiến phản hồi.

Ngày 22/8/2018, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội tiếp tục có Công văn số 1921/CV-TA gửi Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản về việc uỷ thác tống đạt, niêm yết lần thứ 2 văn bản: Quyết định đưa vụ án ra xét xử hồi 14 giờ ngày 26/9/2018 cho anh Nguyễn Thanh Tùng. Ngày 24/9/2018, Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản có văn bản trả lời: Đại sứ quán đã niêm yết và gửi văn bản cho đương sự, tuy nhiên không có kết quả.

Ngoài ra, Toà án cũng đăng tin trên Cổng Thông tin điện tử của Toà án.

Như vậy, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đã thông báo nhưng anh Tùng không có ý kiến về việc chị Hằng xin ly hôn. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt anh Tùng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà có ý kiến:

- Về tố tụng: Hội đồng xét xử chấp hành đúng quy định của các điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Hồ Thanh Hằng và anh Nguyễn Thanh Tùng trầm trọng, không còn quan tâm đến nhau. Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu được ly hôn của chị Hồ Thanh Hằng với anh Nguyễn Thanh Tùng.

Về con chung: Chị Hồ Thanh Hằng và anh Nguyễn Thanh Tùng có 02 con chung là cháu Nguyễn Bảo Nguyên sinh ngày 11/01/2013 và cháu Nguyễn Bảo Trân sinh ngày 13/3/2016. Các cháu còn nhỏ và hiện đang ở cùng chị Hằng. Chị Hằng đề nghị được nuôi cả hai cháu và không yêu cầu anh Tùng cấp dưỡng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giao hai cháu cho chị Hằng trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản, nhà nợ, nợ chung: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Hằng đã chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Hồ Thanh Hằng và anh Nguyễn Thanh Tùng kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản và cùng nhau sinh sống tại Nhật Bản. Cuộc sống chung ban đầu hạnh phúc, hoà thuận. Sau một thời gian, chị Hằng và các con về sống ở Việt Nam, anh Tùng tiếp tục sống và làm việc tại Nhật bản. Do tình cảm xa cách, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, hai bên không quan tâm, chia sẻ cho nhau. Chị Hằng có ý kiến: Hôn nhân không hạnh phúc nên có đơn xin ly hôn. Xét thấy, từ lâu hai bên đã không quan tâm đến nhau, bỏ mặc, không trao đổi trên mọi phương diện. Mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không tồn tại, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hằng.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Bảo Nguyên sinh ngày 11/01/2013 và cháu Nguyễn Bảo Trân sinh ngày 13/3/2016. Hiện chị Hằng đang trực tiếp nuôi dưỡng các cháu nên tiếp tục để hai cháu cho chị Hằng nuôi. Phía anh Tùng chưa có ý kiến trình bày, chưa xem xét được thu nhập để tính cấp dưỡng cụ thể. Do đó tạm hoãn đóng góp phí tổn nuôi con đối với anh Tùng cho đến khi có sự thay đổi khác.

Về tài sản, nhà ở và nợ chung: Chị Hằng trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Phía anh Tùng chưa có ý kiến, Giành quyền khởi kiện nếu anh Tùng có yêu cầu và cung cấp được chứng cứ chứng minh.

Về án phí: Chị Hằng phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và lệ phí uỷ thác tư pháp theo quy định của pháp luật.

Chị Hằng, anh Tùng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 146, 147, 227, 474, 478, 479, 480 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình.

Xử:

- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thanh Hằng với anh Nguyễn Thanh Tùng.

- Về con chung: Xác nhận chị Hằng, anh Tùng có 02 con chung là cháu Nguyễn Bảo Nguyên sinh ngày 11/01/2013 và cháu Nguyễn Bảo Trân sinh ngày 13/3/2016. Tiếp tục giao chị Hằng trực tiếp nuôi dưỡng các cháu. Tạm hoãn đóng góp phí tổn nuôi con đối với anh Tùng cho đến khi có sự thay đổi khác.

Anh Tùng có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai có quyên ngăn cản.

- Về tài sản, nhà ở và nợ chung: Chị Hằng khai không có, không yêu cầu nên Toà án không can thiệp giải quyết.

Nếu sau này anh Tùng có yêu cầu sẽ được giành quyền bằng vụ kiện khác.

- Về án phí: Chị Hằng phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí tại biên lai số AB/2015/0009729 ngày 23/10/2017 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

Án xử công khai, sơ thẩm, tuyên có mặt chị Hằng. Báo chị Hồ Thanh Hằng biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Tùng có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.


54
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Văn bản được dẫn chiếu
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 143/2018/HNGĐ-ST ngày 26/09/2018 về tranh chấp hôn nhân gia đình

Số hiệu:143/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hà Nội
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 26/09/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về