Bản án 14/2017/HS-PT ngày 22/11/2017 về tội hiếp dâm trẻ em

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 14/2017/HS-PT NGÀY 22/11/2017 VỀ TỘI HIẾP DÂM TRẺ EM

Vào ngày 22 tháng 11 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 08/TLPT-HS ngày 03 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo: Lưu Văn B về tội “Hiếp dâm trẻ em. Do kháng cáo của bị cáo, đối với bản án hình sự sơ thẩm số 37/2017/HS-ST ngày 07/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk.

* Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Lưu Văn B, sinh năm 1971 tại tỉnh Tuyên Quang;

Nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi tạm trú: 0XX đường P, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đăk Lăk; nghề nghiệp: Thợ thạch cao; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Sán dìu; Con ông Lưu Văn H2 (đã chết) và con bà Vi Thị H3 (sinh năm 1934). Bị cáo có vợ là Đỗ Thị C (sinh năm 1966) và có 04 con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1994; Bị cáo chung sống như vợ chồng với bà Lý Mùi M - sinh năm 1971; cư trú tại: 0XX đường P, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đăk Lăk. Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 22/02/1997, bị Tòa án nhân dân huyện  S, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 15 tháng tù về tội “Chứa chấp mãi dâm, môi giới mãi dâm”; ngày 23/2/1998 chấp hành xong hình phạt tù. Đến ngày 31/8/2016, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Đắk Lắk khởi tố về tội Hiếp dâm trẻ em, sau đó bỏ trốn bị truy nã, đến ngày 03/3/2017 bị bắt. Bị cáo có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo theo chỉ định của Tòa án: Luật sư Võ H của Văn phòng Luật sư T, thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đắk Lắk.

- Người bị hại: Cháu Lý Thị H - sinh ngày 22/7/2009

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Đặng Chòi X - sinh năm 1973 (là bố đẻ của bị hại).

Nơi cư trú: Thôn Y, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2014, Lưu Văn B từ tỉnh Tuyên Quang đến huyện C, tỉnh Đắk Lăk làm thợ thạch cao thì gặp bà Lý Mùi M, hai người có tỉnh cảm với nhau sau đó về chung sống như vợ chồng (không đăng ký kết hôn). Cùng chung sống với Lưu Văn B và bà Lý Mùi M có cháu Lý Thị H - sinh ngày 22/7/2009 (là con riêng của bà Lý Mùi M).

Do Lưu Văn B và bà Lý Mùi M có thiếu nợ gạo của ông Ngô Văn D ở Thôn 1Y, xã E2, huyện C, nên khoảng 14h20‟ngày 05/6/2016, Lưu Văn B lấy 10 lon gạo đem trả nợ ông Ngô Văn Dinh, khi đi B có nói với bà M cho cháu Lý Thị H đi cùng, bà M và H đồng ý. B điều khiển xe mô tô biển số 47H- 337.XX (xe của bà M) chở cháu H ngồi sau, trên đường đi B đã nảy sinh dục vọng giao cấu với cháu H, nên khi đi được 15 km, B dừng lại quán nước ven đường để uống nước mía và mua 01 chai nước lọc loại 1,5 lít mang theo. Khi đi đến lô cao su của ông Trần Tấn V, thuộc Đội Z, Nông trường cao su C, B cho xe rẽ vào bên trong lô cao su (cách đường khoảng 50m) thì dừng lại lúc này B mở cốp xe lấy 01 cái áo mưa bằng ni lông, màu trắng có chấm bi màu đỏ, rồi dắt cháu H đi bộ vào sâu bên trong (cách nơi để xe khoảng 300m) B trãi áo mưa xuống đất rồi nói cháu H nằm xuống, sau đó B cởi quần của cháu H ra và tự cởi quần của mình để thực hiện hành vi quan hệ tình dục với cháu. Do âm đạo của cháu H nhỏ nên B không cho dương vật vào sâu bên trong được mà chỉ cọ qua lại nhiều lần ở bên ngoài âm hộ, khoảng 05 phút thì B xuất tinh vào âm hộ và áo mưa. Sau khi thỏa mãn dục vọng B lấy chai nước mang theo nói cháu H sử dụng để rửa âm hộ, B cũng lấy nước và tự rửa dương vật của mình rồi cả hai người cùng mặc quần, trước khi đi B đã cuộn chiếc áo mưa bỏ vào bụi cây gần đó rồi dắt cháu H ra xe chở đi về nhà. Khi về đến nhà cháu H kể lại toàn bộ hành vi của B cho bà Lý Mùi M (mẹ đẻ của H) nghe, thấy vậy bà M đưa cháu H đến cơ quan chức năng trình báo và tố cáo hành vi của B. Biết hành vi phạm tội của mình đã bị phát hiện, Lưu Văn B đã bỏ trốn khỏi địa phương, sau đó bị truy nã. Đến ngày 03/3/2017, Lưu Văn B bị Công an huyện E3, tỉnh Đắk Lắk bắt giữ và bàn giao cho Công an tỉnh Đắk Lắk giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngày 09/3/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đăk Lăk, phục hồi điều tra vụ án và tạm giam đối với Lưu Văn B.

Theo biên bán khám nghiệm hiện trường xác định: Nơi xảy ra vụ án là lô cao su của ông Trần Tấn Việt, thuộc Đội 3, nông trường cao su Cư M‟gar; Địa chỉ: thôn Tân Lập, xà Ea Kpam, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, có vị trí: Hướng Đông Nam và Hướng Tây Nam giáp đường phân lô, hướng Nam giáp lô cao su của bà Tô Thị H1, tại hiện trường đã thu giữ được 01 áo mưa màu trắng có chấm bi tròn, màu đỏ, trên áo mưa đã phát hiện và thu giữ được một loại chất lỏng màu trắng đục (nghi là tinh dịch người) và 01 vỏ chai nước bằng nhựa.

Tại Kết luận Giám định số 384/C54C(Đ5) ngày 05/7/2016 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận “Mẫu chất lỏng màu trắng đục thu giữ tại hiện trường có xác tinh trùng của Lưu Văn B”.

Tại bản kết luận pháp y sinh dục số 639/PY-SD ngày 06/6/2016 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận cháu Lý Thị H bị chấn thương bộ phận sinh dục ngoài, không rách màng trinh.

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 37/2017/HS-ST ngày 07/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk đã quyết định:

[1] Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn B phạm tội “Hiếp dâm trẻ em”.

[2] Áp dụng khoản 4 Điều 112; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

[3] Xử phạt bị cáo Lưu Văn B 17 (mười bảy) năm tù, về tội „„Hiếp dâm trẻ em”, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam, ngày 03/3/2017.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 592 Bộ luật dân sự; Ghi nhận việc bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại thỏa thuận; bị cáo Lưu Văn B có trách nhiệm bồi thường cho người bị hại Lý Thị H số tiền là 20.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên quyết định về phần án phí; quyền kháng cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Ngày 21/8/2017, bị cáo Lưu Văn B làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lưu Văn B nhận tội như bản án sơ thẩm đã xét xử, đồng thời giữ nguyên kháng cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu ý kiến như sau:

Về tố tụng: Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng  đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về nội dung: Sau khi đánh giá tính chất hành vi, hậu quả phạm tội của bị cáo Lưu Văn B, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên mức án mà bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo Lưu Văn B.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày như sau: Việc cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người đúng tội không có tình tiết gì mới. Tuy nhiên, do bị cáo là người dân tộc Sán Dìu, không biết chữ, nhận thức hạn chế, trình độ lạc hậu nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt .

Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, lời bào chữa của luật sư, bị cáo và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

[1] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lưu Văn B, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, do có dự tính từ trước vào khoản 14h20‟ ngày 05/6/2016 bị cáo đã lấy cớ đi trả gạo để chở người bị hại là cháu Lý Thị H đi cùng. Trên đường đi bị cáo cũng đã chuẩn bị áo mưa, mua nước và chủ động đưa cháu H vào nơi vắng vẻ để thực hiện hành vi xâm hại tình dục. Cháu Lý Thị H sinh ngày 22/7/2009 là trẻ em dưới 10 tuổi đã bị bị cáo thực hiện hành vi giao cấu, tội phạm hiếp dâm trẻ em của bị cáo đã hoàn thành, sau khi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn và bị truy nã, đến ngày 03/3/2017 mới bắt được.

Hành vi của bị cáo không những xâm hại đến sức khoẻ, danh dự, tâm sinh lý và sự phát triển bình thường của cháu Lý Thị H mà còn ảnh hưởng lớn đến thuần phong mỹ tục, đạo đức luân lý của con người Việt Nam, vi phạm pháp luật hình sự gây dư luận xấu trong nội bộ nhân dân. Do vậy, cần xét xử nghiêm minh theo pháp luật.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 37/2017/HS-ST ngày 07/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk đã áp dụng Khoản 4 Điều 112 Bộ luật hình sự năm 1999 tuyên bố bị cáo Lưu Văn B phạm tội “Hiếp dân trẻ em” và xử phạt bị cáo 17 năm tù là tương xứng, đúng pháp luật, theo Khoản 3 Điều 142 tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” với tình tiết định khung tăng nặng tại điểm c “Đối với người dưới 10 tuổi” thì có mức hình phạt tù từ 20 năm, chung thân hoặc tử hình, tuy nhiên do Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 không có lợi đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không áp dụng. Song cũng cần phân tích để thấy rõ tính chất hành vi nguy hiểm của bị cáo cũng như để xem xét việc xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

Tại cấp sơ thẩm cũng đã nhận định, đánh giá, xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, tại phiên toà phúc thẩm không có tình tiết gì mới nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, cần giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo Lưu Văn B.

Xét lời đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy: Dân tộc nào cũng phải có văn hoá và giữ gìn đạo lý của dân tộc mình, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo không những vi phạm pháp luật thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng mà còn trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị giảm nhẹ hình phạt của luật sư.

[2] Do không chấp nhận kháng cáo nên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[3] Các quyết định khác về xử lý vật chứng, bồi thường thiệt hại, án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lưu Văn B, giữ nguyên hình phạt và các quyết định khác với Lưu Văn B tại bản án hình sự sơ thẩm số 37/2017/HS-ST ngày 07/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk. Áp dụng khoản 4 Điều 112; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự

Xử phạt: Lưu Văn B 17 (mười bảy) năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 03/3/2017.

[2] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Lưu Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


1109
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2017/HS-PT ngày 22/11/2017 về tội hiếp dâm trẻ em

Số hiệu:14/2017/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:22/11/2017
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về