Bản án 14/2017/HNGĐ-ST ngày 09/08/2017 về tranh chấp xin ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 14/2017/HNGĐ-ST NGÀY 09/08/2017 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

Ngày 09 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc  Trăng, xét  xử  sơ  thẩm  công  khai  vụ  án  hôn  nhân  gia  đình  thụ  lý  số: 99/2017/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 6 năm 2017 về “Tranh chấp ly hôn,” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2017/QĐST- HNGĐ ngày 13/7/2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07A/2017/ QĐST- HNGĐ ngày 28/7/2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Dƣơng Thị Sà V, sinh năm 1985(có mặt).

Địa chỉ số: 324, ấp C, xã N, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

2. Bị đơn: Anh Lý Phƣớc V, sinh năm 1978(vắng mặt).

Địa chỉ số: Số 319, ấp C, xã N, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN 

Trong đơn khởi kiện đề ngày 08/6/2017, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Dương Thị Sà V trình bày

Chị Dương Thị Sà V và anh Lý Phước V kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký và được Ủy ban nhân xã N, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 04/02/2016. Thời gian đầu anh, chị chung sống rất hạnh phúc, nhưng sau 03 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh V không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu không quan tâm đến gia đình, chị V khuyên can nhưng anh V không nghe, từ đó dẫn đến bất đồng quan điểm, sau đó anh V bỏ về bên nhà cha mẹ ruột anh sống cho đến nay. Nay chị V nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nửa, nên làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.

Về con chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị V trình bày không có tài sản chung cũng không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn Lý Phước V: Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý số 99/TB.TLVA ngày 08/6/2017 cho bị đơn hợp lệ, nhưng đến nay bị đơn không có ý kiến bằng văn bản gởi cho Toà án đối với yêu cầu khởi kiện nguyên đơn; Toà án đã tống đạt thông báo, giấy triệu tập về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải hợp lệ đến lần thứ 2, nhưng bị đơn vắng mặt không lý do, nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN 

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng: Anh V được Tòa án tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa, nhưng anh V đều vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử xét áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tung dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh V.

- Về nội dung:

(1).Xét thấy chị Dương Thị Sà V và anh Lý Phước V kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký và được Ủy ban nhân xã N, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 04/02/2016 phù hợp theo quy định Luật Hôn nhân và gia đình

Quá trình chung sống anh, chị rất hạnh phúc, nhưng sau 03 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh V không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu không quan tâm đến gia đình, từ đó dẫn đến bất đồng quan điểm, sau đó anh V bỏ về bên nhà cha mẹ ruột anh sống cho đến nay. Tại phiên tòa chị V không đồng ý hàn gắn và kiên quyết xin ly hôn; do đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị V và anh V đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 cho ly hôn là phù hợp.

(2). Về con chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đạt ra xem xét.

(3).Về tài sản chung, nợ chung: Chị V trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt  ra xem xét.

(4). Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; nên chị V phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào:

QUYẾT ĐỊNH

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chị Dương Thị Sà V được ly hôn với anh Lý Phước V.

- Về con chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị V trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Dương Thị Sà V phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0006891, ngày 08/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành; như vậy chị V đã thực hiện xong nghĩa vụ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


81
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2017/HNGĐ-ST ngày 09/08/2017 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:14/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:09/08/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về