Bản án 133/2019/HS-ST ngày 16/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 133/2019/HS-ST NGÀY 16/05/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 16 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 104 /2019/HSST ngày 10 tháng 4 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2019/HSST-QĐ ngày 03/5/2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh năm 1984 tại tỉnh Thanh Hóa; thường trú: Thôn 6 xã L, huyện G, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1940 và con bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1945; bị cáo có 6 anh, chị em ruột, bị cáo là thứ 6; tiền sự, tiền án: Không có.

Nhân thân:

+ Ngày 31/7/2012, Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 19 tháng 10 ngày về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án số 12.

+ Ngày 14/7/2013, Công an huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy

+ Ngày 10/9/2014, Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo bản án số 57 (chấp hành xong việc nộp án phí ngày 21/10/2014, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/8/2016)

Bị tạm giữ ngày 25/11/2018 đến ngày 04/12/2018 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt.

- Bị hại:

1.Chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1995; thường trú: Xóm 4 xã Đ, huyện K, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.

2.Anh Trương Quang T, sinh năm 1994; thường trú: 247 đường B, phường T, quận Đ, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

- Người chứng kiến:

1. Anh Hồ Văn S, sinh năm 1979, vắng mặt.

2. Anh Lê Ngọc D, sinh năm 1986, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 20 giờ ngày 24/11/2018, bị cáo Nguyễn Văn H cùng anh Hồ Văn S đến thuê phòng 204 nhà nghỉ “Thăng Hoa” địa chỉ khu phố Bình Đường 1, phường An Bình, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Thời điểm này anh Trương Quang T và chị Nguyễn Thị Thu H1 cũng đến thuê phòng nghỉ số 205 kế bên phòng của H và S. Đến khoảng 03 giờ ngày 25/11/2018, H thức dậy thấy cửa sổ phòng 205 nơi anh T, chị H1 nghỉ không khóa cửa sổ, cửa không có song cửa anh T, chị H1 đang ngủ. H đi đến chui vào cửa sổ vào phòng anh T, chị H1 lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6 Plus màu vàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu HTC One M9 màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A83 màu hồng và 1.100.000 đồng bỏ vào túi quần, H leo cửa sổ đi về phòng 204. Lúc này anh T thức giấc thấy mất tài sản nên cùng chị H1 xuống báo cho anh Lê Ngọc D là lễ tân khách sạn gặp bị cáo H và anh S xuống trả phòng, Anh D, chị H1, Anh T không cho H, anh S trả phòng yêu cầu H, S quay lại phòng, khi lên phòng H thừa nhận lấy tài sản của chị H1, anh T. Anh T báo Công an phường Bình An, thị xã Dĩ An đến giải quyết và lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang đối với H.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6 Plus 32Gb màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A83 màu hồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu HTC One M9 màu đen; 1.100.000 đồng tiền Việt nam đồng.

Kết luận định giá tài sản số 339/BB/ĐG ngày 01/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, kết luận: Điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6 Plus 32Gb màu vàng trị giá 4.500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A83 màu hồng trị giá 1.600.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu HTC One M9 màu đen trị giá 3.200.000 đồng.

Tng trị giá tài sản H chiếm đoạt gồm điện thoại di động và tiền Việt nam đồng 10.400.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trương Quang T, chị Nguyễn Thị Thu H1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt gồm điện thoại di động, tiền Việt nam đồng.

Cáo trạng số 129/CT-VKS-DA ngày 10/4/2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo H từ 1 năm 6 tháng đến 2 năm tù.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án bị cáo H nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi bị hại anh T, chị H1, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận vào khoảng 3 giờ ngày 25/11/2018, H vào phòng số 205 nhà nghỉ “Thăng Hoa” địa chỉ khu phố Bình Đường 1, phường An Bình, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương do anh Trương Quang T, chị Nguyễn Thị Thu H1 đang thuê nghỉ chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6 Plus màu vàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu HTC One M9 màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A83 màu hồng và 1.100.000 đồng. Tổng giá trị 10.400.000 đồng.

Điều 173 Tội trộm cắp tài sản, Bộ luật Hình sự quy định:

"Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm"

Như vậy, hành vi bị cáo H lén lút chiếm đoạt tài sản của anh T, chị H1 đủ yếu tố cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản” quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 129/CT – VKS –DA ngày 10/4/2019 của Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo H cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên ngày hôm nay đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng chưa gây ra thiệt hại, quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có cha mẹ ruột được Nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến hạng nhì. Tình tiết trên được quy định điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo H có nhân thân rất xấu thể hiện trong việc sử dụng ma túy, bản thân đã 02 lần vi phạm pháp luật hình sự, bị tòa án xét xử tuy bị cáo đã được xóa án tích, lần phạm tội này của bị cáo thể hiện sự không chấp hành pháp luật cũng như tính hướng thiện của bản thân.

[3] Về tính chất mức độ tội phạm: Tội phạm do bị cáo H thực hiện là ít nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 03 năm tù, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện phạm tội một cách cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo ngoài việc xâm phạm trực tiếp đến tài sản hợp pháp của anh Trương Quang T, chị Nguyễn Thị Thu H1 được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo H mức án tù có thời hạn, tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội cũng như có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trương Quang T, chị Nguyễn Thị Thu H1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, anh T, chị H1 không có yêu cầu bồi thường gì khác. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo. Quan điểm trên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận. Riêng mức hình phạt đối với bị cáo H có phần nghiêm khắc, Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án tù thấp hơn mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

[6] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[7] Án phí sơ thẩm: Bị cáo H phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, bị cáo được tính trừ thời gian tạm giữ từ ngày 25/11/2018 đến ngày 04/12/2018.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14. Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


66
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 133/2019/HS-ST ngày 16/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:133/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 16/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về