Bản án 13/2019/DS-ST ngày 25/09/2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 13/2019/DS-ST NGÀY 25/09/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Trong các ngày từ 24/9/2019 đến ngày 25/9/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2018/TLST-KDTM ngày 26 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXX-ST ngày 06 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt nam Thịnh Vượng (tên viết tắt: VPBank)

Địa chỉ: Số 89 Láng Hạ, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, TP Hà Nội

* Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí Dũng – Chức danh: Chủ tịch Hội đồng Quản trị.

* Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn Anh – Chức danh: Phó Giám đốc Trung tâm pháp luật ngân hàng, SME và cá nhân VPBank Hội Sở (theo văn bản ủy quyền số 11/2018/UQ-HĐQT ngày 02/3/2018 của ông Ngô Chí Dũng).

* Người được ủy quyền lại tham gia tố tụng (theo văn bản ủy quyền số 3805/2018/UQ-VPB ngày 30/11/2018) - Ông Nguyễn Văn Thành – Chuyên viên xử lý nợ VP Bank AMC (Có mặt)

2. Bị đơn:

- Anh Vi Văn Quán, sinh năm 1990 (Vắng mặt).

- Chị Phan Thị Bắc, sinh năm 1984 (Vắng mặt).

Cúng trú tại: Thôn Vặt Ngoài, xã Tân Hoa, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Bà Đồng Thị Thuyên, sinh năm 1955 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Vặt Ngoài, xã Tân Hoa, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa th nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (sau đây gọi tắt là VPBank) do ông Nguyễn Văn Thành là người đại diện theo ủy quyền trình bày: VPBank Chi nhánh Bắc Giang cho vợ chồng anh Vi Văn Quán, chị Phan Thị Bắc vay hai khoản tiền, cụ thể như sau.

- Hợp đồng tín dụng số 6250476 (LD1603501644) ngày 04/02/2016, VPBank Chi nhánh Bắc Giang cho vợ chồng anh Vi Văn Quán và chị Phan Thị Bắc vay số tiền 380.000.000 đồng (Ba trăm tám mươi triệu đồng). Thời hạn vay 120 tháng, lãi suất tại thời điểm giải ngân là 10,5%/năm (lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng một lần). Mục đích sử dụng tiền vay là để “Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh gỗ bóc”. Phương thức giải ngân một lần bằng h nh thức chuyển khoản, phương thức cho vay là “Cho vay trả góp” (Định kỳ vào ngày 25 hàng tháng bên vay sẽ phải trả cho VPBank một khoản tiền gốc và một khoản tiền lãi).

- Hợp đồng tín dụng số LD1622400561 ngày 11/8/2016, VPBank cho anh Vi Văn Quán vay số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). H nh thức vay là vay thấu chi (dịch vụ mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ), mục đích vay là để mua sắm đồ dùng gia đình, thời hạn vay 05 năm, lãi suất theo quy định của ngân hàng VPBank (lãi suất được điều chỉnh 3 tháng một lần), định kỳ thanh toán gốc và lãi mỗi tháng một lần.

Tài sản đảm bảo cho các khoản vay trên là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ xã Tân Hoa, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang được thực hiện theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6250476 ngày 04/02/2016, đã được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành S 773292, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00113 QSDĐ/Số 289/QĐ-UB do UBND huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang cấp ngày 29/6/2001 cho anh Vi Văn Quán.

Quá tr nh thực hiện các hợp đồng tín dụng trên, bên vay là vợ chồng anh Vi Văn Quán, chị Phan Thị Bắc đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng VPBank kể từ ngày 23/6/2017. VPBank đã nhiều lần yêu cầu anh Vi Văn Quán và chị Phan Thị Bắc thanh toán khoản nợ trên nhưng anh Quán, chị Bắc chưa thực hiện.

Tính đến ngày 24/9/2019 vợ chồng anh Vi Văn Quán, chị Phan Thị Bắc còn nợ VPBank các khoản tiền cụ thể như sau:

*Đối với khoản vay 380.000.000 đồng: Nay còn nợ gốc là 322.994.000 đồng; Nợ lãi là 120.054.198 đồng; Tổng số cả gốc và lãi phải trả là 443.048.198 đồng.

*Đối với khoản vay 200.000.000 đồng: Nay còn nợ gốc là 170.022.378 đồng; Nợ lãi là 67.385.885 đồng; Tổng số cả gốc và lãi phải trả là 237.408.263 đồng.

*Tổng cộng cả hai khoản nợ: Nợ gốc phải trả là 493.016.378 đồng; Nợ lãi phải trả là 187.440.083 đồng; Tổng số cả gốc và lãi phải trả là 680.456.461 đồng.

Ngân hàng VPBank yêu cầu Tòa án buộc anh Vi Văn Quán và chị Phan Thị Bắc liên đới trả cho ngân hàng số tiền 680.456.461 đồng và toán bộ lãi phát sinh tính từ ngày 24/9/2019 đến ngày thực trả nợ theo đúng mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

Trường hợp anh Vi Văn Quán và chị Phan Thị Bắc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ th Ngân hàng VPBank có quyền tự m nh hoặc yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.

Tại bản tự khai ngày 07/01/2019 bị đơn anh Vi Văn Quán trình bày:

Tháng 02 năm 2016 anh có vay của Ngân hàng VPBank số tiền 380.000.000 đồng. Mục đích vay để kinh doanh gỗ, lãi suất thỏa thuận theo hợp đồng, thời hạn vay là 10 năm nhưng mỗi tháng phải trả cả gốc và lãi một lần theo như khế ước nhận nợ.

Tháng 7 năm 2016 anh có vay tiếp của Ngân hàng VPBank số tiền 200.000 đồng, mục đích vay cũng để kinh doanh gỗ, thời hạn vay là 05 năm nhưng mỗi tháng phải trả gốc và lãi một lần.

Để bảo đảm cho các khoản vay trên th anh có thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 1250m2 tại thôn Vặt Ngoài, xã Tân Hoa, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang cho phía VPBank. Đất và tài sản trên đất thuộc quyền sử dụng, sở hữu của anh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S773292 do UBND huyện Lục Ngạn cấp ngày 29/6/2001.

Anh đã thanh toán gốc và lãi nhiều lần cho phía Ngân hàng, tuy nhiên anh không nhớ cụ thể là đã trả được tổng số bao nhiêu tiền gốc và bao nhiêu tiền lãi.

Đầu năm 2017 anh bị tai nạn giao thông nên công việc kinh doanh bị đình trệ, kinh tế gia đình gặp khó khăn nhưng anh vẫn nhớ là có trả thêm được 85 triệu đồng cho Ngân hàng, khoảng gần 1 năm trở lại đây anh không trả thêm cho Ngân hàng được một khoản tiền nào nữa.

Nay phía Ngân hàng yêu cầu anh phải thanh toán toàn bộ nợ gốc, nợ lãi, phạt chậm trả lãi. Quan điểm của anh là đồng ý trả nợ cho phía ngân hàng nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn nên anh đề nghị được trả làm nhiều lần.

Tại bản tự khai ngày 07/01/2019, bị đơn chị Phan Thị Bắc tr nh bày các nội dung giống với lời khai trên của anh Vi Văn Quán. Quan điểm của chị Bắc là đồng ý cùng anh Vi Văn Quán trả toàn bộ số nợ trên cho phía ngân hàng VPBank nhưng do điều kiện kinh tế gia đình chị đang gặp khó khăn nên chị đề nghị phía ngân hàng tạo điều kiện cho vợ chồng chị được trả dần làm nhiều lần.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đồng Thị Thuyên đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo phiên họp về việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập phiên tòa hợp lệ nhưng không có văn bản thể hiện quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng VPBank. Các buổi làm việc theo giấy triệu tập bà Thuyên đều vắng mặt không lý do, Tòa án không thu thập được lời khai của bà Đồng Thị Thuyên.

Tại phiên toà:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với việc đề nghị Tòa án buộc vợ chồng anh Vi Văn Quán, chị Phan Thị Bắc phải liên đới trả Ngân hàng VPBank tổng số tiền 680.456.461 đồng (Trong đó nợ gốc là 493.016.378 đồng, nợ lãi là 187.440.083 đồng). Ngân hàng xin rút yêu cầu đối với khoản phạt chậm trả lãi. Trường hợp anh Vi Văn Quán và chị Phan Thị Bắc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ th Ngân hàng VPBank có quyền tự m nh hoặc yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.

Anh Vi Văn Quán, chị Phan Thị Bắc, bà Đồng Thị Tuyên mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá tr nh giải quyết vụ án và tr nh bày quan điểm giải quyết đối với vụ án:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá tr nh giải quyết vụ án và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không lý do tại phiên tòa là không tuân thủ các nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 305, 342, 343, 344, 347, 355, 474, 478, 715, 720, 721 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 90, khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng VPBank.

- Buộc anh Vi Văn Quán và chị Phan Thị Bắc liên đới trả Ngân hàng VPBank tổng số tiền 680.456.461 đồng (Trong đó nợ gốc là 493.016.378 đồng, nợ lãi là 187.440.083 đồng) và phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo hợp đồng.

- Chấp nhận việc nguyên đơn xin rút yêu cầu đối với khoản phạt chậm trả lãi.

- Về chi phí thẩm định, xem xét tại chỗ: Bị đơn phải chịu chi phí thẩm định, xem xét tại chỗ.

- Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng VPBank và anh Vi Văn Quán, chị Phan Thị Bắc là quan hệ dân sự giữa pháp nhân với cá nhân (không đăng ký kinh doanh). Các bên không tự giải quyết được tranh chấp phát sinh, nguyên đơn đã làm đơn khởi kiện theo thủ tục Tòa án. Bị đơn anh Vi Văn Quán, chị Phan Thị Bắc là người có địa chỉ cư trú tại thôn Vặt Ngoài, xã Tân Hoa, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Bất động sản được đăng ký thế chấp có địa chỉ tại thôn Vặt Ngoài, xã Tân Hoa, huyện Lục Ngạn. Điều 10 của Hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại Tòa án. Do vậy Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 26; Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

Tòa án thụ lý vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Tuy nhiên quá tr nh giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thời hiệu khởi kiện đối với quan hệ tranh chấp này được quy định tại Điều 427 của Bộ luật dân sự năm 2005, việc Ngân hàng VPBank khởi kiện đối với anh Vi Văn Quán, chị Phan Thị Bắc là còn thời hiệu khởi kiện.

[1.3] Về áp dụng pháp luật nội dung: Ngân hàng VPBank và anh Vi Văn Quán, chị Phan Thị Bắc ký kết hợp đồng tín dụng số 6250476 vào ngày 04/02/2016. Anh Vi Văn Quán ký kết hợp đồng hợp đồng tín chấp (Mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ ngân hàng điện tử và vay vốn) vào ngày 11/8/2016. Như vậy các hợp đồng dân sự đều được giao dịch, ký kết trước ngày 01/01/2017 (Ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành). Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự 2005 để giải quyết vụ án.

[2] Về nội dung:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự đã xác định được giữa ngân hàng VPBank và vợ chồng anh Vi Văn Quán có ký kết hai hợp đồng tín dụng, cụ thể:

[2.1] Đối với khoản vay thứ nhất: Tại hợp đồng tín dụng số 6250476 (LD1603501644) ngày 04/02/2016: Vợ chồng anh Vi Văn Quán, chị Phan Thị Bắc vay số tiền 380.000.000 đồng. Phương thức giải ngân là giải ngân một lần bằng h nh thức chuyển khoản, phương thức cho vay là cho vay trả góp. Mục đích cho vay là để “Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh gỗ bóc”. Thời hạn vay là 120 tháng (từ ngày 04/02/2016 đến ngày 04/02/2026), lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 10,5%/năm. Điều khoản thỏa thuận các kỳ trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng định kỳ 01 tháng /lần vào ngày 25 hàng tháng (trả một phần nợ gốc và lãi lần đầu tiên vào ngày 25/02/2016), tổng cộng có 120 kỳ trả gốc và lãi, số tiền nợ gốc mà bên vay phải trả mỗi kỳ là 3.167.000 đồng. Để bảo đảm cho khoản vay trên anh Vi Văn Quán có ký “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác” số 6250476 ngày 04/02/2016 với Ngân hàng VPBank. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 773292, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00113 QSDĐ/Sô 289/QĐ-UB (H) do UBND huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang cấp ngày 29/6/2001 cho chủ sử dụng là Vi Văn Quán).

- Thửa đất có diện tích: 1250m2.

- Địa chỉ thửa đất: Xã Tân Hoa, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Mục đích sử dụng: 90m2 đất thổ cư; 1160m2 đất vườn.

- Thời hạn sử dụng: Lâu dài.

Tài sản thế chấp được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang ngày 04/02/2016 theo đúng quy định.

Lời khai của anh Vi Văn Quán, chị Phan Thị Bắc có trong hồ sơ vụ án cũng thừa nhận nội dung giao dịch trên. Tính đến ngày xét xử 24/9/2019 vợ chồng anh Quán, chị Bắc còn nợ gốc là 322.994.000 đồng, nợ lãi là 120.054.198 đồng. Xác định khoản vay này là nợ chung của vợ chồng anh Quán, chị Bắc đối với ngân hàng VPBank v anh Quán, chị Bắc vay tiền để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế gia đình. Hai vợ chồng đều biết, thống nhất ký kết hợp đồng và đồng ý cùng chịu trách nhiệm trả nợ cho ngân hàng. V anh Quán, chị Bắc vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng VPBank theo thỏa thuận tại Điều 4 của Hợp đồng tín dụng số 6250476 ngày 04/02/2016, nên căn cứ Điều 474 và Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005 buộc vợ chồng anh Vi Văn Quán, chị Phan Thị Bắc phải liên đới trả ngân hàng VPBank số tiền 443.048.198 đồng (Trong đó nợ gốc là 322.994.000 đồng, nợ lãi là 120.054.198 đồng).

[2.2] Đối với khoản vay thứ hai: Tại hợp đồng tín dụng số LD1622400561 ngày 11/8/2016, anh Vi Văn Quán vay số tiền 200.000.000 đồng, h nh thức vay là vay thấu chi (dịch vụ mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ), mục đích vay là để mua sắm đồ dùng gia đình, thời hạn vay 05 năm, lãi suất theo quy định của Ngân hàng VPBank (lãi suất được điều chỉnh 3 tháng một lần), định kỳ thanh toán gốc và lãi mỗi tháng một lần.

Xét thấy khoản vay này do cá nhân anh Vi Văn Quán tự thực hiện, nhưng chị Phan Thị Bắc xác nhận khoản vay này chị có được biết, có được bàn bạc, thống nhất với anh Quán, tiền vay để sử dụng vào mục đích chung của gia đình nên chị đồng ý cùng với anh Quán trả khoản nợ này. Xét thấy sự thỏa thuận này giữa anh Quán, chị Bắc là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên cần buộc cả anh Vi Văn Quán, chị Phan Thị Bắc phải liên đới chịu trách nhiệm đối với khoản vay này, trả Ngân hàng VPBank số tiền 237.408.263 đồng (Trong đó nợ gốc là 170.022.378 đồng, nợ lãi là 67.385.885 đồng).

[3] Xét thấy việc ký kết các hợp đồng tín dụng giữa vợ chồng anh Vi Văn Quán, chị Phan Thị Bắc và Ngân hàng VPBank là tự nguyện, các thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Việc anh Quán, chị Bắc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng là vi phạm thỏa thuận tại Điều 4 của Hợp đồng tín dụng cũng như tại Khế ước nhận nợ mà các bên đã ký kết. Do vậy ngân hàng có quyền được thu hồi, xử lý nợ theo quy định tại Điều 6 của Hợp đồng tín dụng và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Từ những nhận định trên, xét thấy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng VPBank, buộc anh Vi Văn Quán và chị Phan Thị Bắc liên đới trả ngân hàng VPBank tổng số tiền 680.456.461 đồng (trong đó nợ gốc là 493.016.378 đồng; Nợ lãi là 187.440.083 đồng) của hai hợp đồng tín dụng nêu trên.

[4] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6250476 ngày 04/02/2016 giữa anh Vi Văn Quán và ngân hàng VPBank được công chứng chứng thực tại Văn phòng công chứng Tân Thành và được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Lục Ngạn đúng quy định của pháp luật tại Điều 116, Điều 119 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 9 Nghị định 163/2006/NĐ-CP; Khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013 và Điều 122 Luật nhà ở 2014.

Tại Điều 2 của Hợp đồng thế chấp có thể hiện “Tài sản thế chấp nêu tại Điều 1 Hợp đồng này bảo đảm cho việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ - bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, các khoản phí, tiền bồi thường thiệt hại, chi phí xử lý tài sản thế chấp và tất cả các nghĩa vụ liên quan khác của ông Vi Văn Quán và vợ là bà Phan Thị Bắc đối với bên ngân hàng phát sinh từ tất cả các hợp đồng tín dụng, văn bản tín dụng ký giữa bên ngân hàng và bên vay từ ngày 04/02/2016 đến ngày 04/02/2021...”.

Như vậy hợp đồng thế chấp tài sản số 6250476 ngày 04/02/2016 có giá trị pháp lý để bảo đảm cho các khoản vay nếu bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã giao kết. Trường hợp anh Quán, chị Bắc không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ th phía Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành việc kê biên, xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Tại thời điểm Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định trên đất chỉ có 01 nhà ở cấp 4 và công tr nh phụ ngoài ra không có tài sản nào khác.

[5] Tại yêu cầu khởi kiện ban đầu, ngân hàng VPBank yêu cầu anh Vi Văn Quán, chị Phan Thị Bắc phải trả tổng số tiền là 556.676.229 đồng, trong đó khoản tiền phạt chậm trả lãi là 5.284.232 đồng. Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn xin được rút yêu cầu về khoản phạt chậm trả lãi. Xét thấy đề nghị này của nguyên đơn là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên được chấp nhận và đình chỉ xét xử sơ thẩm đối với yêu cầu này.

[6] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Quá tr nh giải quyết vụ án, nguyên đơn đã nộp 3.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Đã chi phí hết 2.000.000 đồng, số tiền còn lại đã thanh toán trả cho nguyên đơn. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu 2.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

[7] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng VPBank được chấp nhận toàn bộ nên anh Vi Văn Quán và chị Phan Thị Bắc phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 20.000.000 đồng + (280.456.461 đồng x 4%) = 31.218.000 đồng.

Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

[8] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 305; Điều 342; Điều 343; Điều 344; Điều; 347; Điều 355; Điều 474; Điều 478; Điều 715; Điều 720; Điều 721 của Bộ luật Dân sự 2005; Điều 116; Điều 119; Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013; Điều 122 Luật nhà ở 2014.

Căn cứ Điều 90; Khoản 2 Điều 91; Khoản 2 Điều 95; Điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Căn cứ Điều 26, Điều 35; Điều 39, Điều 147; Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 244; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch đảm bảo được sửa đổi bổ sung theo Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (tên viết tắt: VPBank) đối với anh Vi Văn Quán, chị Phan Thị Bắc.

2. Buộc anh Vi Văn Quán và chị Phan Thị Bắc phải có nghĩa vụ liên đới trả Ngân hàng VPBank tổng số tiền 680.456.461 đồng (Viết bằng chữ: Sáu trăm tám mươi triệu, bốn trăm năm mươi sáu ngh n, bốn trăm sáu mốt đồng), trong đó nợ gốc là 493.016.378 đồng; Nợ lãi là 187.440.083 đồng.

Trường hợp anh Vi Văn Quán, chị Phan Thị Bắc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ th VPBank có quyền tự m nh hoặc yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ, xử lý tài sản thế chấp theo “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác” số 6250476 ngày 04/02/2016 (Thửa đất lô số Vặt Ngoài, tờ bản đồ số Vặt Ngoài, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành S 773292, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00113 QSDĐ/Số 289/QĐ-UB do UBND huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang cấp ngày 29/6/2001 mang tên Vi Văn Quán).

3. đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng VPBank đối với số tiền phạt chậm trả lãi 5.284.232 đồng (theo yêu cầu khởi kiện ban đầu).

4. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm anh Vi Văn Quán, chị Phan Thị Bắc còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh thoán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay th lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

5. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Anh Vi Văn Quán, chị Phan Thị Bắc phải trả Ngân hàng VPBank 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

6. Về án phí: Anh Vi Văn Quán và chị Phan Thị Bắc phải chịu 31.218.000 đồng (Ba mươi mốt triệu hai trăm mười tám ngh n đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho ngân hàng VPBank số tiền 15.000.000 đồng (Mười năm triệu đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2018/0005233 ngày 26/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

7. Về quyền kháng cáo:

Các đương có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng th thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm./.


21
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về