Bản án 1318/2019/HNGĐ-ST ngày 28/11/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 1318/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/11/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 28 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét sử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 551/2019/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 268/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 188/2019/QĐXXST-HNGĐ-HPT ngày 18 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Tr, sinh năm 1990 (Có mặt);

Thường trú: Khối A, phường B, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An;

Địa chỉ tạm trú/ liên lạc: Số C đường D, Phường 10, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Trƣơng Quốc D, sinh năm 1987 (Vắng mặt);

Thường trú: Số C đường D, Phường 10, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

019, bà Vũ Thị Tr (sau đây gọi tắt là bà Tr) có đơn khởi kiện gửi đến Tòa án nhân dân Quận 8 yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Trương Quốc D (sau đây gọi tắt là ông D).

Tại đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 5 năm 2019 và quá trình giải quyết vụ, nguyên đơn là bà Tr trình bày:

Bà Tr và ông D tự nguyện chung sống vợ chồng với nhau từ tháng 02 năm 2014, đến tháng tháng 12 năm 2016 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 10, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 123 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Quá trình chung sống vợ chồng, bà Tr và ông D có sinh được 01 (Một) người con chung tên là Vũ Gia T, giới tính: Nam, sinh ngày 03 tháng 12 năm 2014.

Trong giấy khai sinh của người con tên là Vũ Gia T không ghi họ tên cha là ai, lý do là vì bà Tr với ông D sống chung vợ chồng với nhau và có con trước khi kết hôn; sau khi bà Tr sinh con thì về quê ở phường B, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An đăng ký khai sinh cho con theo hộ khẩu của mẹ; vào thời điểm đó do bà Tr và ông D chưa đăng ký kết hôn nên khi làm hồ sơ khai sinh cho con tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An đã không ghi tên cha vào giấy khai sinh của con tên là Vũ Gia T. Bà Tr xác nhận và cam đoan ông D là cha ruột của người con tên là Vũ Gia T, ông D và gia đình của ông D cũng đã thừa nhân Vũ Gia T là con của ông D.

Cuộc sống chung vợ chồng giữa bà Tr và ông D có hạnh phúc được một thời gian từ tháng 02 năm 2014 đến năm 2017. Khi người con là Vũ Gia T được 03 tuổi thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn kéo dài cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do ông D không chăm lo cho vợ con, không có trách nhiệm với gia đình, từ đó bà Tr và ông D thường xuyên sảy ra mâu thuẫn tranh cãi nhau dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và kéo dài, cuộc sống chung vợ chồng không có hạnh phúc. Bà Tr đã 01 lần nộp đơn ly hôn với ông D tại Tòa án nhân dân Quận 8 vào năm 2018, sau đó bà Tr nghĩ lại và đã làm đơn xin rút đơn khởi kiện để cho ông D cơ hội sửa chữa bản thân và thay đổi cách sống; Tòa án nhân dân Quận 8 đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án ly hôn giữa bà Tr và ông D theo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 489/2018/QĐ-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2018. Sau khi bà Tr rút đơn khởi kiện để vợ chồng đoàn tụ nhưng ông D đã không thay đổi nên bà Tr không thể chấp nhận với cách sống của ông D như hiện nay, mặt khác bà Tr không còn tình cảm với ông D nữa, bà Tr và ông D đã ly thân và không còn sống chung với ông D từ tháng 01 năm 2019 đến nay. Cuôc sống hôn nhân giữa bà Tr và ông D không có hạnh phúc, thiếu tình cảm, không sống chung, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài đã quá sức chịu đựng của bà Tr. Bà Tr nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa bà với ông D không còn nữa nên bà Tr yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông D.

Trường hợp ly hôn:

- Về con chung: Bà Tr xác nhận và cam đoan là giữa bà và ông D có 01 (Một) người con tên là Vũ Gia T, giới tính: Nam, sinh ngày 03 tháng 12 năm 2014.

Về việc nuôi con: Bà Tr có yêu cầu xin nhận là người trực tiếp nuôi con cho đến khi người con tên là Vũ Gia T thành niên (đủ 18 tuổi).

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Nếu được giao là người trực tiếp nuôi con thì bà Tr không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con, vì bà Tr có đủ điều kiện và khả năng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà Tr xác nhận và cam đoan là giữa bà và ông D không có tài sản chung, không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà Tr xác nhận và cam đoan là giữa bà và ông D không có khoản nợ nào chung và không phải thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai, không có tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông D không đến Tòa án làm việc để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Tr, không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nên Tòa án không ghi được ý kiến của ông D.

Tại phiên tòa hôm nay:

Bà Tr vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn với ông D, bà Tr yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông D. Bà Tr xác nhận và cam đoan là giữa bà và ông D có 01 (Một) người con tên là Vũ Gia T, giới tính: Nam, sinh ngày 03 tháng 12 năm 2014; bà Tr không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh ông D là cha ruột của Vũ Gia T; bà Tr tự nguyện nhận một mình nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; bà Tr không tranh chấp về con chung, không tranh chấp về việc cấp dưỡng nuôi con; bà Tr xác nhận và cam đoan là giữa bà và ông D không có tài sản chung, không có khoản nợ nào chung, không phải thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai, không tranh chấp; không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung.

Bị đơn là ông D vắng mặt tại phiên tòa nên không rõ ý kiến.

Về việc bị đơn vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng dân sự gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho ông D do người thân của ông D nhận thay theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng ông D vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời gian chuẩn bị xét xử: Tòa án nhân dân Quận 8 thụ lý giải quyết vụ án sơ thẩm đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Ly hôn” đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; việc xác định tư cách người tham gia tố tụng của đương sự đúng quy định tại Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đảm bảo đúng quy định tại các Điều 93, 94, 95, 96 và 97 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Trình tự thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án đảm bảo đúng quy định tại các Điều 195, 196, 197 và 198 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thủ tục hòa giải đảm bảo đúng quy định tại các Điều 205, 206, 207 và 210 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đảm bảo đúng quy định tại các Điều 170, 171, 172, 173, 174, 175 và 177 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

+ Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, thủ tục tố tụng tại phiên tòa đúng trình tự luật định (đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 239, 240, 241, 243, 247, 248, 249, 250, 254, 258, 260, 261 và 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Việc Hội đồng xét xử tiến hành việc xét xử vắng mặt bị đơn sau khi đã tống đạt các văn bản tố tụng dân sự hợp lệ cho bị đơn là đúng thủ tục tố tụng theo quy định tại các Điều 227 và 228 của Bộ luật tố Tụng dân sự năm 2015.

- Việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi Tòa án thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

+ Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tại các Điều 70, 71 và 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

+ Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật tại các Điều 70, và 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Quan điểm của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự và căn cứ vào các Điều 56 và 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo hướng: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là bà Tr.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền và thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn:

- Về quan hệ tranh chấp: Xét nội dung khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án xác định đây là vụ án dân sự về Hôn nhân và Gia đình tranh chấp “Ly hôn”.

- Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn cư trú tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 8 theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 36 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn: Trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án này, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng dân sự: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho ông D tại nơi cư trú của ông D do người thân của ông D nhận thay theo đúng quy định tại khoản 5 Điều 177, 196, 208, khoản 2 Điều 220 và khoản 3 Điều 233 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng bị đơn là ông D vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về yêu cầu của đương sự:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Tr và ông D chung sống vợ chồng từ năm 2014 và có đăng ký kết hôn đúng quy định nên hôn nhân của họ là hợp pháp. Bà Tr và ông D sống chung với nhau đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng kéo dài cho đến nay; bà Tr và ông D đã ly thân và không còn sống chung từ tháng 02 năm 2019 đến nay. Ông D đã không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện “Ly hôn” của bà Tr; không đến Tòa án để cung cấp tài liệu, chứng cứ; không đến tham gia hòa giải và xét xử; như vậy ông D đã không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân với bà Tr.

Xét thấy hôn nhân của bà Tr với ông D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Tr, cho ly hôn giữa bà Tr và ông D căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Về con chung: Bà Tr khai giữa bà và ông D có 01 (Một) người con tên là Vũ Gia T, giới tính: Nam, sinh ngày 03 tháng 12 năm 2014; trong giấy khai sinh của Vũ Gia T không ghi tên cha là ai; ông D không đến Tòa án để làm việc và giải quyết vụ án, nên không rõ ý kiến kiến của ông D về con chung; Tòa án cũng đã có văn bản yêu cầu bà Tr cung cấp tài liệu, chứng cứ về việc xác định ông D là cha của người con tên là Vũ Gia T nhưng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Tr không cung cấp được chứng cứ chứng minh ông D là cha của Vũ Gia T; ngoài lời khai của bà Tr ra thì không còn chứng cứ nào khác để chứng minh ông D là cha ruột của Vũ Gia T nên không có cơ sở để xác định Vũ Gia T là con chung của bà Tr với ông D. Khi có tranh chấp về con chung đối với người con tên là Vũ Gia T và khi có tranh chấp về việc nuôi con, cấp dưỡng nuôi con thì bà Tr và ông D có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ việc dân sự khác.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Tr về việc bà Tr tự nguyện nhận là người trực tiếp nuôi người con tên là Vũ Gia T cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi).

Ghi nhận sự tự nguyên của bà Tr về việc bà Tr sẽ tự nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà Tr xác nhận và cam đoan là giữa bà và ông D không có tài sản chung, không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà Tr xác nhận và cam đoan là giữa bà và ông D không có khoản nợ nào chung và không phải thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai, không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Bị đơn là ông D đã không đến Tòa án để cung cấp chứng cứ, trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án thì coi như là ông D đã từ bỏ quyền được cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án cấp sơ thẩm.

[3] Về quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên đã trình bày tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án.

[4] Về án phí: Bà Tr phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 48; khoản 4 Điều 147; các Điều 227, 228, 232, 233, 235, 264, 266, 267, 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 56 và Điều 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Áp dụng Luật Thi hành án dân sự;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Tr.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Vũ Thị Tr và ông Trương Quốc D.

Giấy chứng nhận kết hôn số: 123 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban nhân dân Phường 10, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị pháp lý khi bản án này có hiệu lực pháp luật.

- Về con chung: Bà Vũ Thị Tr không tranh chấp về con chung đối với người con tên là Vũ Gia T, giới

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Vũ Thị Tr về việc bà Vũ Thị Tr tự nguyện nhận là người trực tiếp nuôi

tính: Nam, sinh ngày 03 tháng 12 năm 2014, không tranh chấp về việc cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.Khi có tranh chấp về con chung đối với người con tên là Vũ Gia T và khi có tranh chấp về việc nuôi con, cấp dưỡng nuôi con thì bà Vũ Thị Tr và ông Trương Quốc D có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ việc dân sự khác. người con tên là Vũ Gia T, giới tính: Nam, sinh ngày 03 tháng 12 năm 2014 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi).

Ghi nhận sự tự nguyên của bà Vũ Thị Tr về việc bà Vũ Thị Tr sẽ tự nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà Vũ Thị Tr xác nhận và cam đoan là giữa bà và ông Trương Quốc D không có tài sản chung, không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà Vũ Thị Tr xác nhận và cam đoan là giữa bà và ông Trương Quốc D không có khoản nợ nào chung và không phải thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai, không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2. Về án phí:

Buộc bà Vũ Thị Tr phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), để sung quỹ Nhà nước. Được trừ vào số tiền mà bà Vũ Thị Tr đã nộp tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2018/0019684 ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Vũ Thị Tr đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo và việc thi hành bản án:

Án xử công khai, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt không rõ lý do.

Nguyên đơn là bà Vũ Thị Tr có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn là ông Trương QuỐc D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết (kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ).

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự”.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 1318/2019/HNGĐ-ST ngày 28/11/2019 về ly hôn

Số hiệu:1318/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 8 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:28/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về