Bản án 11/2019/HNGĐ-ST ngày 26/04/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 11/2019/HNGĐ-ST NGÀY 26/04/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 26 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 294/2018/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2018, về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2019/QĐXX-ST ngày 13 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị D, sinh năm 1973 (Có mặt) Địa chỉ: ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1974 (Vắng mặt) Địa chỉ: ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 02-10-2018 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đoàn Thị D trình bày:

- Về hôn nhân: Vào năm 1995, chị Đoàn Thị D và anh Nguyễn Văn D quen biết và tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 07-7-1995.

Những năm đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày nên thường xuyên cãi nhau và do anh D tính tình hung hăng thường xuyên gây sự và nhiều lần đánh chị D dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, chị D đã cố gắng chịu đựng và hàn gắn tình cảm để lo cho con nhưng không có kết quả, anh D vẫn không sửa đổi tính tình, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Từ năm 2017 đến nay cho dù chị D và anh D vẫn sống chung nhà nhưng không còn yêu thương, quan tâm chăm sóc nhau nữa. Hiện nay chị D không còn tình cảm với anh D nữa. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị D yêu cầu được ly hôn với anh D.

- Về con chung: Chị D và anh D có 02 người con chung tên Nguyễn Trí T, sinh năm 1995 và Nguyễn Trí D, sinh năm 1999. Hiện nay các con đều đã trưởng thành nên chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị D xác nhận vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị D xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn D: Không có ý kiến bằng văn bản theo Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và cũng không có mặt theo giấy triệu tập làm việc, Thông báo phiên họp và Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án.

Tại phiên tòa anh D vắng mặt.

* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Thời hạn chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử: Đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Đoàn Thị D đối với bị đơn anh Nguyễn Văn D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghị án, Toà án nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn D chưa có ý kiến xác nhận theo đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Đoàn Thị D, Toà án đã làm đầy đủ thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh D vẫn vắng mặt không lý do. Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xử vắng mặt bị đơn. Do vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị D và anh Nguyễn Văn D chung sống với nhau vào năm 1995 trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và được Ủy bannhân dân xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 07-7-1995, đây là hôn nhân hợp pháp.

[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Đoàn Thị D: Vợ chồng chị D và anh D không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau nữa, thể hiện qua lời trình bày của chị Dịu tại Toà án và qua xác minh tại địa phương: Chị D và anh D có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày nên thường xuyên cãi nhau và anh D đã nhiều lần đánh chị D, chị D đã cố gắng chịu đựng để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng mâu thuẫn giữa chị D và anh D ngày càng trầm trọng. Bên cạnh đó, chị D xác nhận hiện nay chị không còn tình cảm với anh D nữa. Toà án xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của chị D xin ly hôn với anh D là có căn cứ để chấp nhận.

[4] Về nuôi con chung: Chị D và anh D có 02 người con chung tên Nguyễn Trí T, sinh năm 1995 và Nguyễn Trí D, sinh năm 1999, nay các người con đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập anh D đúng theo quy định pháp luật nhưng anh D vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất về tài sản chung và nợ chung giữa chị D và anh D được. Mặt khác, tại phiên toà chị D xác nhận về tài sản chung chị và anh D sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết và vợ chồng không có nợ ai. Cho nên về phần tài sản chung và nợ chung Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

[6] Thống nhất ý kiến của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án như đã phân tích và nhận định trên.

[7] Về án phí: Chị D là nguyên đơn trong vụ án, do đó chị phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng theo quy định tại Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án và tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 28, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 56 và Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/BTVQH14 ngày 30-12-2016 của ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đoàn Thị D và anh Nguyễn Văn D.

2. Về nuôi con chung: Chị Đoàn Thị D và anh Nguyễn Văn D có 02 người con chung tên Nguyễn Trí T, sinh năm 1995 và Nguyễn Trí D, sinh năm 1999, nay các người con đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Đoàn Thị D phải nộp 300.000 đồng nhưng chị D được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006740 ngày 04-10-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, chị D không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 .

5. Quyền kháng cáo: Chị Đoàn Thị D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn D vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


89
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2019/HNGĐ-ST ngày 26/04/2019 về ly hôn

Số hiệu:11/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Kiên Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:26/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về