Bản án 11/2019/HNGĐ-ST ngày 22/07/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 11/2019/HNGĐ-ST NGÀY 22/07/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 22/07/2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 77/2019/TLST-HNGĐ ngày 06/06/2019 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/06/2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đàm Thị L, sinh năm 1966; KHTT: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh C (có mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1965; trú tại: Thôn Ngh, xã Ngh, huyện Th, tỉnh B (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là bà Đàm Thị L trình bày: Sau một thời gian tìm hiểu, bà và ông Nguyễn Văn H tổ chức lễ cưới vào ngày 18 tháng 10 năm 1989, nhưng không đăng ký kết hôn. Sau lễ cưới, bà và ông H chung sống với nhau ngay, những năm đầu vợ chồng chung sống hoà thuận hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do quan điểm sống bất đồng. Vì mâu thuẫn vợ chồng kéo dài, không được cải thiện nên bà và ông H sống ly thân khoảng 10 năm và không có khả năng đoàn tụ. Bà xác định không còn tình cảm với ông H nên yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn ông Nguyễn Văn H.

Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Trường S, sinh ngày 25/03/1990 và Nguyễn Tiến D, sinh ngày 22/02/1992. Các con đã đủ tuổi trưởng thành, khỏe mạnh, minh mẫn nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Bà không yêu cầu Toà án giải quyết Chứng cứ mà nguyên đơn đưa ra để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình gồm (bản sao): Giấy chứng minh nhân dân của bà L và ông H, Giấy khai sinh của các con; Sổ hộ khẩu gia đình;

Trong bản tự khai và lời khai tại phiên tòa, bị đơn là ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông và bà L chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1989 nhưng không đăng ký kết hôn như bà L trình bày là đúng. Vì bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng sống ly thân nhiều năm. Nay bà L xin ly hôn ông hoàn toàn nhất trí.

Về con chung: Ông bà có hai con chung như bà L đã trình bày là đúng và hiện nay các con đã trưởng thành nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ, công sức của vợ chồng: Ông không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành:

Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự: Toà án tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền và thời hạn theo quy định của pháp luật. Việc ra các văn bản tố tụng, cũng như các thủ tục tố tụng tại phiên toà đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ Điều 9 và Điều 14 Luật hôn nhân gia đình; Căn cứ vào khoản 4 Điều 3 Thông tư 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn một số quy định của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Điều 147, 227 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về quan hệ vợ chồng: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Đàm Thị L và ông Nguyễn Văn H.

- Về án phí: Bà Đàm Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; sau khi nghe vị đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Toà án và về đường lối giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Bà Đàm Thị L có đơn khởi kiện xin ly hôn ông Nguyễn Văn H có nơi cư trú tại xã Ngh, huyện Th, tỉnh B. Do vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào khoản 4 Điều 3 Thông tư 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn một số quy định của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì việc bà Đàm Thị L và ông Nguyễn Văn H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1989 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Bởi vậy, xét yêu cầu giải quyết xin ly hôn của bà L là không có căn cứ và Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Đàm Thị L và ông Nguyễn Văn H.

- Về con chung, tài sản, công nợ, công sức đóng góp: Đương sự không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 9, Điều 14 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 4 Điều 3 Thông tư 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn một số quy định của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 235, 264, 266 và các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

1. Tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Đàm Thị L và ông Nguyễn Văn H.

2. Về án phí: Bà Đàm Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2017/0003147 ngày 06/06/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Thành. Bà Đàm Thị L đã nộp đủ tiền án phí.

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


60
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về