Bản án 11/2019/HNGĐ-ST ngày 18/04/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 11/2019/HNGĐ-ST NGÀY 18/04/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 18/4/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 136/2018/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2018, về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 02/4/2019 giữa:

Nguyên đơn: Đặng Thị Liên K, sinh năm: 1982.

Địa chỉ: Khóm 2, thị trấn M, huyện T, Đồng Tháp.

Bị đơn: Nguyễn Văn R, sinh năm: 1978.

Địa chỉ: Khóm 3, thị trấn M, huyện T, Đồng Tháp.

Chị K có mặt tại phiên tòa, anh R vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đặng Thị Liên Kết trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh R có đăng ký kết hôn năm 2004, tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, lúc đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng thời gian sau thì vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, anh R thường chửi mắng, xúc phạm nhân phẩm và đánh đập chị.

Ngày 30/12/2016 chị qua nhà anh của chị ở cho đến nay không về nhà nữa. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh Ri.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Kim C, sinh ngày 12/11/2006, chị K đang nuôi dưỡng, chị K yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh R cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

- Anh Nguyễn Văn R là bị đơn trình bày: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Ri đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng nhưng không gửi văn bản ý kiến của mình cho Tòa án và vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành hòa giải, xét xử vắng mặt anh R.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là tranh chấp về ly hôn giữa nguyên đơn chị Đặng Thị Liên K, bị đơn anh Nguyễn Văn R nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

Hội đồng xét xử xét từng yêu cầu của chị K như sau:

Quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Liên K và anh Nguyễn Văn R kết hôn và có đăng ký kết hôn năm 2004, trong quá trình giải quyết vụ án, anh R không đến Tòa án để chứng minh cho tình cảm của vợ chồng có mâu thuẫn hay không.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có ghi: “1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.”

Do đó, chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị Liên K được ly hôn với anh Nguyễn Văn R.

Về quan hệ nuôi con: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Kim C, sinh ngày 12/11/2006, chị K đang nuôi dưỡng, chị Kếyêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh R cấp dưỡng, theo văn bản ghi ý kiến của cháu C có nguyện vọng tiếp tục sống với chị K, nên tiếp tục giao con cho chị K nuôi dưỡng, anh R không cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản, nợ: Không có.

Đối với anh R đã được triệu tập hợp lệ hai lần để xét xử vụ án nhưng anh R vắng mặt không có lý do nên xét xử vắng mặt anh R theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị Liên K được ly hôn với anh Nguyễn Văn R.

2. Về quan hệ nuôi con: Chị K tiếp tục nuôi dưỡng con tên Nguyễn Thị Kim C, sinh ngày 12/11/2006. Anh R không cấp dưỡng nuôi con.

Chị K, anh R có quyền, nghĩa vụ, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh R được quyền thăm nom con. Không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về quan hệ tài sản, nợ: Không có.

4. Về án phí: Chị K phải nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004054, ngày 10/12/2018, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Chị K được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh R vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.


135
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2019/HNGĐ-ST ngày 18/04/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:11/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tháp Mười - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:18/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về