Bản án 111/2019/HNGĐ-ST ngày 09/10/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 111/2019/HNGĐ-ST NGÀY 09/10/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, LY HÔN

Trong ngày 09 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 230/2019/TLST-HNGĐ ngày 29/5/2019 về việc tranh chấp “Hôn nhân và gia đình, ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 212/2019/QĐXX-ST ngày 28/8/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bé H, sinh năm 1991 (có mặt) Cư trú: Số 577/8, khóm Tây Khánh 4, phường Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Anh Cao Lê Phương G, sinh năm 1987 (vắng mặt) Cư trú: Ấp Trung Bình Tiến, xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, nguyên đơn chị Trần Thị Bé H trình bày: Tôi với anh Cao Lê Phương G chung sống với nhau từ năm 2014, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang ngày 22/3/2019. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc và sinh được 01 con chung tên Cao Trần Nguyễn K, sinh ngày 04/9/2015 (hiện nay cháu K sống với chị H). Đến năm 2018, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do anh G không chịu lo làm ăn, thường xuyên đi chơi; không quan tâm chăm sóc vợ con và chăm lo cuộc sống gia đình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cải nhau, mặc dù tôi thường xuyên góp ý để anh G khắc phục nhưng vẫn không thay đổi, vợ chồng đã ly thân từ tháng 3 năm 2019 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên tôi yêu cầu được ly hôn với anh Cao Lê Phương G; về con chung, sau khi ly hôn tôi yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung không có.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt cho anh Cao Lê Phương G thông báo thụ lý, thông báo hòa giải với nội dung chị Trần Thị Bé H yêu cầu ly hôn anh Cao Lê Phương G; Về quan hệ con chung có 01 con chung tên Cao Trần Nguyễn K, sinh ngày 04/9/2015; sau khi ly hôn chị H yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung không có.

Do anh G vắng mặt tại nơi cư trú, nên Tòa án đã niêm yết các thủ tục tố tụng, lập biên bản không hòa giải được và tiến hành đưa vụ án ra xét xử.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đều chấp hành đúng với quy định của pháp luật. Về trình tự thụ lý, biên bản tống đạt, gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát thực hiện đúng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án, qua xem xét toàn bộ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Bé H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn; bị đơn anh Cao Lê Phương G cư trú tại ấp Trung Bình Tiến, xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Theo quy định tại Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Tại phiên tòa, anh Cao Lê Phương G vắng mặt, Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Cao Lê Phương G theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Trần Thị Bé H chung sống với anh Cao Lê Phương G từ năm 2014, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn, được xem là hôn nhân hợp pháp, nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Sau khi kết hôn, chị H với anh G có thời gian chung sống hạnh phúc, có con chung. Đến đầu năm 2018, vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do anh G không chịu lo làm ăn, không quan tâm chăm sóc vợ con và gia đình, mặc dù chị H nhiều lần góp ý để anh G khắc phục nhưng vẫn không thay đổi; vợ chồng đã ly thân từ tháng 3 năm 2018 đến nay. Thời gian ly thân hai người không còn liên lạc nhau; mặc dù chị H có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng hai người vẫn không đoàn tụ. Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 01/8/2019, ông Dương Sanh Hùng, trưởng ban ấp Trung Bình Tiến, xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn xác nhận hiện nay chị H với anh G không còn sống chung với nhau; sau khi ly thân, chị H đưa cháu Cao Trần Nguyễn K về nhà cha mẹ ruột tai khóm tây Khánh 4, phường Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên sinh sống đến nay. Từ những nhận định, phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Trần Thị Bé H với anh Cao Lê Phương G mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Bé H được ly hôn với anh Cao Lê Phương G.

[2.2] Về con chung: Sau khi ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi cháu Cao Trần Nguyễn K, không yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay cháu K còn rất nhỏ, từ lúc chị H với anh G ly thân cho đến nay, cháu K đều sống với chị H, được chị H chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định, anh G khồng hề đến thăm nom, chăm sóc con; để tránh xáo trộn về mặt tâm lý và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cháu K phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, nghĩ nên giao cháu K cho chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi con, chị H phải tạo điều kiện cho anh G được quyền thăm nom, chăm sóc con, khi cần thiết có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Theo chị H trình bày, quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

[3] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Do chị H yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2014; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Bé H.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Bé H được ly hôn với anh Cao Lê Phương G.

Giấy chứng nhận kết hôn số 39, ngày 22 tháng 3 năm 2019 của UBND xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

- Về quan hệ con chung: Chị Trần Thị Bé H được tiếp tục nuôi con chung tên Cao Trần Nguyễn K, sinh ngày 04/9/2015, anh G không phải cấp dưỡng nuôi con, chị H phải tạo điều kiện cho anh G được quyền đến thăm nom, chăm sóc con, khi cần thiết có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật.

- Về quan hệ tài sản: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Ghi nhận chị H xác định không có nợ chung nhưng khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của Hiền và anh G trong thời kỳ hôn nhân thì chị Trần Thị Bé H và anh Cao Lê Phương G phải liên đới trách nhiệm với tư cách là bị đơn trong một vụ án dân sự khác.

- Về án phí sơ thẩm: Chị Trần Thị Bé H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0000217 ngày 29/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (Chị H đã nộp xong).

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở UBND xã, thị trấn nơi đương sự cư trú để yêu cầu xét xử phúc thẩm.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 111/2019/HNGĐ-ST ngày 09/10/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn

Số hiệu:111/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thoại Sơn - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 09/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về