Bản án 10/2018/HNGĐ-ST ngày 27/04/2018 về tranh chấp hôn nhân gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 10/2018/HNGĐ-ST NGÀY 27/04/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Ngày 27/04/2018, tại Tòa án huyện G, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 137/2017/TLST-HNGĐ ngày 19/12/2017; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/03/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị M, sinh năm 1984, có mặt;

Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1982, vắng mặt;

Cùng đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Thôn P, xã B, huyện G, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, các bản khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị M trình bày:

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã giao các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh Nguyễn Xuân Q, nhưng cho đến phiên tòa anh Nguyễn Xuân Q vắng mặt không lý do.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã lấy lời khai của ông Nguyễn Xuân A, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1961 (là bố, mẹ anh Q); cùng trú tại: Thôn P, xã B, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; ông A và bà K trình bày: Sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ông, bà đã gửi và qua điện thoại di động thông báo trực tiếp cho anh Nguyễn Xuân Q được biết việc chị Lê Thị M xin ly hôn và Tòa án gửi các văn bản tố tụng; anh Q biết và có trả lời qua điện thoại là không về để giải quyết ly hôn tại Tòa án được; anh đi làm phu hồ, không có địa chỉ nào cụ thể, nay đây, mai đó, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn vắng mặt; con chung không có, tài sản và công nợ không yêu cầu giải quyết.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm nghị án là đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn tham gia phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã chấp hành đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vắng mặt không có lý do; Hội đồng xét xử đã xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng : Các điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội xử:

1. Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị M ly hôn anh Nguyễn Xuân Q.

2. Tài sản và công nợ không xem xét giải quyết.

3. Chị Lê Thị M phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm; được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Quan hệ hôn nhân

Chị Lê Thị M và anh Nguyễn Xuân Q kết hôn đảm bảo đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật, nên xác định quan hệ hôn nhân này là hợp pháp. Chị Lê Thị M xác định không còn tình cảm vợ chồng ly thân từ năm 2009 đến nay. Kể từ khi ly thân đến nay đã 09 năm anh Nguyễn Xuân Q cũng không quan tâm đến chị M và cũng không có biện pháp nào để vợ chồng đoàn tụ. Qúa trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Nguyễn Xuân Q vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử đã xét xử vắng mặt là đúng quy định của pháp luật.  Hội đồng xét xử xét thấy: Tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; chị Lê Thị M xin ly hôn là có căn cứ chấp nhận, nên xử cho ly hôn là phù hợp thực tế và đúng pháp luật.

[2]. Chị Lê Thị M và anh Nguyễn Xuân Q không có con chung, nguyên đơn không đề nghị giải quyết về tài sản và công nợ nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3]. Án phí: Chị Lê Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về đường lối giải quyết vụ án là phù hợp và đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 144, 147, 235, 239, 248, 249, 260, 261, 262, 264, 266, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 51, 53 và 56 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí lệ phí Tòa án xử:

1. Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị M được ly hôn anh Nguyễn Xuân Q.

2. Con chung không có, tài sản và công nợ không xem xét giải quyết.

3. Án phí: Chị Lê Thị M phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm; được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0001184 ngày 19/12/2017, của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.


52
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2018/HNGĐ-ST ngày 27/04/2018 về tranh chấp hôn nhân gia đình

Số hiệu:10/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Gia Bình - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 27/04/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về