Bản án 1002/2018/HNGĐ-ST ngày 13/09/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 1002/2018/HNGĐ-ST NGÀY 13/09/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 13 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 230/2018/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2018 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 334/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh D, sinh năm 1991

Thường trú: Đường K, khu phố B, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hồ Hải A, sinh năm 1987

Thường trú: Đường M, khu phố B, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh D trình bày:

Bà Nguyễn Thị Thanh D và ông Nguyễn Hồ Hải A tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Linh Trung, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 17/5/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với gia đình vợ. Ban đầu cuộc sống chung vợ chồng đã không hạnh phúc, nguyên nhân do ông Hải A không quan tâm, chăm sóc vợ con, thích vui chơi với bạn bè. Bà D đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông Hải A không thay đổi. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01/2017 cho đến nay. Nay bà D xác định tình cảm không còn và yêu cầu được ly hôn với ông Hải A.

Về con chung: Bà D và ông Hải A có 01 người con chung tên Nguyễn Hải P, sinh ngày 29/4/2016. Bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Hải A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

2. Bị đơn ông Nguyễn Hồ Hải A trình bày:

Ông Nguyễn Hồ Hải A và bà Nguyễn Thị Thanh D tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Linh Trung, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 17/5/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường. Sau khi sinh con, bà D bị rối loạn sau sinh nên tính tình thay đổi, vì thế mới nộp đơn ly hôn. Bản thân ông Hải A vì muốn lo kinh tế cho gia đình và tính chất công việc nên ông Hải A thường xuyên tiếp khách hàng và có ăn nhậu để giao tiếp làm ăn chứ không phải là không có trách nhiệm với gia đình. Về phần chăm sóc con, do con còn nhỏ, ông Hải A không biết cách chăm sóc con và do tính ít nói nên ông Hải A cũng ít chia sẻ với vợ. Vài tháng gần đây thì vợ chồng không còn cãi vã. Nay bà D yêu cầu ly hôn thì ông Hải A không đồng ý ly hôn vì tình cảm vợ chồng vẫn còn. Ông Hải A cam kết sẽ sửa chữa lỗi lầm của mình.

Về con chung: Bà D và ông Hải A có 01 người con chung tên Nguyễn Hải P, sinh ngày 29/4/2016. Trường hợp phải ly hôn, ông Hải A đồng ý giao con chung cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng, ông Hải A không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

3. Tại phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thanh D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Về quan hệ hôn nhân: Bà D kiên quyết yêu cầu được ly hôn với ông Hải A vì tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với ông Hải A; Về con chung: Bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hải P, sinh ngày 29/4/2016, không yêu cầu ông Hải A cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Ông Nguyễn Hồ Hải A đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do.

4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

4.1 Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa, quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đồng thời, quyền và nghĩa vụ của đương sự được tôn trọng và bảo đảm đúng quy định của pháp luật.

4.2 Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cùng lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng:

1.1 Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Nguyễn Thị Thanh D yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hồ Hải A. Theo Kết quả xác minh của Công an phường Linh Chiểu, quận Thủ Đức thì bị đơn ông Hải A đang cư ngụ tại Đường M, khu phố B, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ tranh chấp là ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

1.2 Bị đơn ông Hải A đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Hải A.

2. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị Thanh D và ông Nguyễn Hồ Hải A tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 48, ngày 17 tháng 5 năm 2016. Do đó, căn cứ quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông Hải A là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thanh D, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bà D cho rằng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông Hải A không quan tâm, chăm sóc vợ con, thích vui chơi với bạn bè. Bà D đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông Hải A không thay đổi. Hiện hai bên đã sống ly thân từ tháng 01/2017 cho đến nay. Phía ông Hải A đã được triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông Hải A vắng mặt không rõ lý do.

Căn cứ Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà D và ông Hải A phát sinh do vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẻ với nhau. Ông Hải A xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, không đồng ý ly hôn nhưng không đến Tòa án tham gia phiên tòa, điều này thể hiện ông Hải A không có thiện chí hàn gắn quan hệ vợ chồng, để mặc quan hệ hôn nhân, không quan tâm đến ý kiến của bà D. Đồng thời, tại phiên tòa, bà D kiên quyết ly hôn và xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, không thể tiếp tục chung sống với ông Hải A.

Như vậy, mâu thuẫn giữa bà D và ông Hải A đã thật sự trầm trọng, khả năng hàn gắn đoàn tụ gia đình không còn vì không bên nào có thiện chí hàn gắn quan hệ vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D.

- Về con chung:

Bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hải P, sinh ngày 29/4/2016 và không yêu cầu ông Hải A cấp dưỡng nuôi con.

Căn cứ Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.

Xét thấy, con chung tên Nguyễn Hải P hiện chưa đủ 03 tuổi. Theo Văn bản số 72/VHTT ngày 16/5/2018 của Phòng Văn hóa và Thông tin quận Thủ Đức và số 531/LĐTB ngày 01/6/2018 của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức thì bà D đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung, có khả năng về tài chính và đủ điều kiện nuôi dạy con. Đồng thời, ông Hải A cũng đồng ý giao con cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thống nhất thỏa thuận của hai bên đương sự, giao con chung tên Nguyễn Hải P cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà D không yêu cầu ông Hải A cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự xác định không có.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Do đây là vụ án hôn nhân gia đình về ly hôn nên bà D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 186, Khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 9, 19, 51, 53, 54, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh D.

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thanh D và ông Nguyễn Hồ Hải A.

1.2 Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thanh D và ông Nguyễn Hồ Hải A có 01 con chung tên Nguyễn Hải P, sinh ngày 29/4/2016.

Bà Nguyễn Thị Thanh D và ông Nguyễn Hồ Hải A thống nhất thỏa thuận giao con chung tên Nguyễn Hải P cho bà Nguyễn Thị Thanh D trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Thanh D không yêu cầu ông Nguyễn Hồ Hải A cấp dưỡng nuôi con chung.

Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

1.3 Về tài sản chung: Không có.

1.4 Về nợ chung: Không có.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thanh D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0038407 ngày 14 tháng 3 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Thanh D đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thanh D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Hồ Hải A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


57
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 1002/2018/HNGĐ-ST ngày 13/09/2018 về ly hôn

Số hiệu:1002/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Thủ Đức - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 13/09/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về