Bản án 07/2019/HS-ST ngày 29/01/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN KHÁNH, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 07/2019/HS-ST NGÀY 29/01/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 29 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2019/ TLST- HS ngày 11 tháng 01 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2019/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2018 đối với các bị cáo:

1.Lê Tuấn A; sinh năm 1984 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm 2, xã  Đ, huyện Y, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Công Q và bà Nguyễn Thị C; chưa có vợ, con; tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 26/7/2018 bị Công an huyện Yên Khánh xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc; chấp hành ngày 15/8/2018.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

2. Nguyễn Viết T; sinh  năm 1977 tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Số nhà 01, ngõ 139, đường V, phố  S, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết T1 và bà Nguyễn Thị P; vợ Đinh Thị H, có 02 con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2007.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 26/7/2018 bị Công an huyện Yên Khánh xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc; chấp hành ngày 15/8/2018.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Lê Văn T2; sinh năm 1988; trú tại: Xóm G, xã  H, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; có mặt.

+ Anh Nguyễn Thế H1; sinh năm 1981; trú tại: Thôn  N, xã T, huyện G, tỉnh Ninh Bình; có mặt.

- Người chứng kiến:

+ Anh Đinh Văn Đ; sinh năm 1983; trú tại: Thôn T 1, xã T, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Viết T, Lê Tuấn A, Lê Văn T2, sinh năm 1988, ở xã  H, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Nguyễn Thế H1, sinh năm 1981, ở xã T, huyện G, tỉnh Ninh Bình đều là công nhân của Doanh nghiệp xây dựng Xuân Trường, có trụ sở tại số nhà 16, đường X, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.   Khoảng 12 giờ ngày 20/11/2018, tại lán trạm trộn bê tông của doanh nghiệp ở xóm T, xã  C, huyện Y, tỉnh N, Lê Tuấn A và Nguyễn Thế H1 mỗi người cầm một nửa bộ bài chắn để ở phản trong lán. Nguyễn Viết T và Lê Văn T2 cùng đang ngồi ở đó đều biết đánh chắn và hiểu ý của Tuấn A và H1 đánh chắn ăn tiền. Tuấn Avà H1 chia bài, tất cả đồng ý đánh bạc và quy định cách chơi: Người “ù” thì mới được nhận tiền từ người chơi còn lại, nếu không có ai “ù” thì hoà, chia bài đánh lại, người “ù” được nhận tiền tính theo điểm, mỗi điểm tương ứng 5000 đồng và cách tính: “Suông” tính 02 điểm; “thông”, “trì”, “địa ù” tính 03 điểm; “tôm”, “tríu”, “thiên” “khai” “ù bòn” “ăn bòn”, “bạch thủ” tính 04 điểm; “lèo” tính 05 điểm; “bạch thủ ù chi” tính 06 điểm; “bạch định” tính 07 điểm; “tám đỏ” tính 08 điểm. Nguyễn Viết T, Lê Tuấn A, Lê Văn T2, Nguyễn Thế H1 đánh bạc đến 13 giờ 40 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an huyện Yên Khánh phát hiện lập biên bản vi phạm. Thu giữ trên chiếu số tiền 820.000 đồng, 01 bộ bài chắn 100 quân, trên người Lê Tuấn A 500.000 đồng.

Kết quả điều tra xác định, tổng số tiền các đối tượng dùng đánh bạc là 820.000 đồng, trong đó có Nguyễn Viết T và Lê Tuấn A bị Công an  huyện Yên Khánh xử phạt vi phạm hành chính số 139 và 137 ngày 26/7/2018 về hành vi đánh bạc. 

Quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 09/01/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình truy tố các bị cáo Lê Tuấn A và Nguyễn Viết T về tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố:  Các bị cáo  Lê Tuấn A và Nguyễn Viết T phạm tội đánh bạc.

+  Căn cứ  khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm  i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt  bị cáo  Lê Tuấn A từ  12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ và khấu trừ 5% thu nhập trong thời gian chấp hành hình phạt.  Phạt tiền bổ sung 10.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

+  Căn cứ  khoản 1 và khoản 3 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36  Bộ luật Hình sự.  Xử phạt  bị cáo Nguyễn Viết T từ  9 đến 12 tháng  cải tạo không giam giữ và  khấu trừ 5% thu nhập trong thời gian chấp hành hình phạt. Phạt tiền bổ sung  10.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

Giao các bị cáo Lê Tuấn A và Nguyễn Viết T cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú  để giám sát,  giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

+ Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 820.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc.

- Tịch thu tiêu hủy 1 bộ bài chắn 100 quân.

-  Trả lại cho bị cáo Lê Tuấn A 500.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Tại phiên tòa các bị cáo Lê Tuấn A và Nguyễn Viết T đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như cáo trạng đã truy tố.  Các bị cáo Lê Tuấn A và Nguyễn Viết T không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử  giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các anh Lê Văn T2 và Nguyễn Thế H1 tại phiên tòa đều khai nhận ngày 20/11/2018 các anh đã cùng với các bị cáo Tuấn Avà T thực hiện hành vi đánh bạc như cáo trạng đã nêu. Các anh Lê Văn T2 và Nguyễn Thế H1 không có ý kiến gì về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Tại phiên toà các bị cáo Lê Tuấn A, Nguyễn Viết T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các anh Lê Văn T2, Nguyễn Thế  H1  đều  khai nhận có hành vi đánh chắn được thua bằng tiền với số tiền là 820.000 đồng  đúng như nội dung bản cáo trạng   của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Lời khai  của các bị cáo và  người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phù hợp với nhau; phù hợp với vật chứng đã thu giữ và  các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:  Trưa ngày 20/11/2018, tại lán trạm trộn bê tông của Công ty xây dựng Xuân Trường ở xóm T, xã  C, huyện Y, các bị cáo  Lê Tuấn A, Nguyễn Viết T đã đánh bạc cùng với Lê Văn T2 và  Nguyễn Thế H1  bằng hình thức đánh “chắn” được thua bằng tiền, tổng số tiền dùng vào đánh bạc là 820.000 đồng.

Lê Tuấn A, Nguyễn Viết T, Lê Văn T2 và Nguyễn Thế H1 có hành vi đánh bạc trái phép dưới 5.000.000 đồng.  Theo quy định tại khoản 1  Điều 321 Bộ luật Hình sự: “Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm...”.

Ngày 26/7/2018 các bị cáo Lê Tuấn A và Nguyễn Viết T bị Công an huyện Yên Khánh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với mức phạt 1.000.000 đồng. Đến ngày 20/11/2018  Tuấn  A và T  thực hiện hành vi đánh bạc chưa đủ thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Do đó hành vi của các bị cáo Lê Tuấn A và Nguyễn Viết T đã đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với các anh Lê Văn T2 và Nguyễn Thế H1 chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi tổ chức đánh bạc; chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.  Công an huyện Yên Khánh  đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với  Lê Văn T2 và Nguyễn Thế H1 là có căn cứ.

[ 2]  Hành vi của  các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương.  Các bị cáo Lê Tuấn A và Nguyễn Viết T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ việc đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng  bị cáo để giáo dục, cải tạo các bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

 [3] Về tình tiết tăng nặng , giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo   Lê Tuấn A và Nguyễn Viết T không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lê Tuấn A và Nguyễn Viết T đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;  thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải  theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T đã có thời gian phục vụ quân đội và có bố là bệnh binh nên được hưởng  tình  tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự  quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4 ] Về nhân thân và vai trò của các bị cáo:  Các bị cáo Tuấn A và T có 1 tiền sự về hành vi đánh bạc. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không phải là người khởi xướng và có vai trò ngang nhau.

[5]   Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì  mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.  Hội đồng xét xử nhận thấy các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, số tiền đánh bạc không lớn và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội mà áp dụng  Điều 36 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền địa phương thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo thành người công dân tốt.

Khấu trừ 5% thu nhập của  bị cáo Lê Tuấn A và Nguyễn Viết T trong thời gian chấp hành án. Ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Lê Tuấn A và Nguyễn Viết T là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[8] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 820.000 đồng thu giữ của các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng vào việc đánh bạc

- Tịch thu tiêu hủy 1 bộ bài chắn 100 quân sử dụng vào việc đánh bạc

- Trả lại cho bị cáo Lê Tuấn A 500.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý để thi hành án.

[9]  Về án phí: Các bị cáo Lê Tuấn A và Nguyễn Viết T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và  Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm  2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10]  Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan  có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

 [11] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, đúng thẩm quyền, đúng trình tự quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Lê Tuấn A và Nguyễn Viết T phạm tội đánh bạc.

+  Căn cứ  khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm  i và  s khoản 1 Điều 51; Điều 36  Bộ luật Hình sự.  Xử phạt  bị cáo Lê Tuấn A 12 ( mười hai) tháng  cải tạo không giam giữ; Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã  Đ, huyện Y, tỉnh  Nam Định nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Khấu trừ 5% thu nhập của bị cáo Lê Tuấn A trong thời gian chấp hành án và phạt bổ sung 10.000.000đ ( mười triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Giao bị cáo Lê Tuấn A cho Uỷ ban nhân dân xã  Đ, huyện Y, tỉnh  Nam Định là nơi bị cáo thường trú giám sát,  giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

+  Căn cứ  khoản 1 và khoản 3 Điều 321; các điểm i,  s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;  Điều 36  Bộ luật Hình sự.  Xử phạt  bị cáo Nguyễn Viết T 9 ( Chín) tháng  cải tạo không giam giữ; Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Uỷ ban nhân dân phường  Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Khấu trừ 5% thu nhập của bị cáo Nguyễn Viết T trong thời gian chấp hành án và phạt bổ sung  10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Giao bị cáo Nguyễn Viết T cho Uỷ ban nhân dân phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình là nơi bị cáo thường trú giám sát,  giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

3.Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 820.000 đồng (tám trăm hai mươi nghìn đồng) thu giữ của các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng vào việc đánh bạc

- Tịch thu tiêu hủy 1 bộ bài chắn 100 quân sử dụng vào việc đánh bạc

- Trả lại cho bị cáo Lê Tuấn A 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) nhưng tiếp tục quản lý để thi hành án.

 (  Những vật chứng trên đã giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình  theo  biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/01/2019 và giấy ủy nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử lập ngày 18/ 01/2019 giữa Công an huyện Yên Khánh với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và  Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Lê Tuấn A và Nguyễn Viết T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng ( hai trăm nghìn đồng)  án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai; các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/01/2019).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2019/HS-ST ngày 29/01/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:07/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Khánh - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về