Bản án 07/2019/HNGĐ-ST ngày 25/01/2019 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 07/2019/HNGĐ-ST NGÀY 25/01/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 25 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 700/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2018 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 232/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày25 tháng 12 năm  2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2019/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2019, giữa các đương sự:

-  Nguyên đơn: Anh Lê Văn T; địa chỉ: Thôn Tân, xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

-  Bị đơn: Chị Trần Thị H; địa chỉ: địa chỉ: Thôn Tân, xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 03/10/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Anh Lê Văn T (nguyên đơn) khai:

Về hôn nhân: Anh Lê Văn T và chị Trần Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quảng Thanh, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng vào ngày 04 tháng 5 năm 2018. Quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến tháng 8 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong lao động, sinh hoạt dẫn tới cuộc sống chung vợ chồng ngày càng thờ ơ, lạnh nhạt và thường xuyên xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình khuyên bảo nhưng không thành. Do mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân nhau. Nay anh T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng đoàn tụ không có nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh T được ly hôn chị Trần Thị H.

Về con chung: Anh Lê Văn T khai: Anh và chị Trần Thị H không có con chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Lê Văn T khai: Anh và chị Trần Thị H không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là chị Trần Thị H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật song đến ngày mở phiên tòa, chị H vẫn không có mặt để trình bày ý kiến về việc anh Lê Văn T xin ly hôn.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Tài liệu điều tra thể hiện quan hệ hôn nhân giữa anh Lê Văn T và chị Trần Thị H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh T và chị H được ly hôn. Về con chung và tài sản chung: Anh Lê Văn T khai anh và chị Trần Thị H không có con chung và không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về tố tụng: Nguyên đơn là Anh Lê Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là Chị Trần Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng chị H vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Lê Văn T và chị Trần Thị H.

 [2] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Lê Văn T và chị Trần Thị H được xác lập năm 2018 là hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến tháng 8 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Tài liệu điều tra xác minh thể hiện nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong lao động, trong sinh hoạt dẫn đến vợ chồng sống ngày càng thờ ơ lạnh nhạt và không còn tình cảm thương yêu nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hòa giải nhưng không thành. Do mâu thuẫn, vợ chồng anh T, chị H đã sống ly thân nhau. Anh T xin ly hôn chị H, Tòa án đã triệu tập chị H nhiều lần để trình bày ý kiến về việc anh T xin ly hôn nhưng chị H vẫn vắng mặt không có lý do. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn xử cho anh T và chị H được ly hôn.

 [3] Về con chung: Anh Lê Văn T khai anh và chị Trần Thị H không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

 [5] Về tài sản chung: Anh Lê Văn T khai anh và chị Trần Thị H không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong vụ án này.

 [6] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì anh Lê Văn T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Lê Văn T và chị Trần Thị H.

2. Về án phí: Anh Lê Văn T phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng anh T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0009473 ngày 04 tháng 10 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, anh Lê Văn T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Anh Lê Văn T, chị Trần Thị H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


38
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2019/HNGĐ-ST ngày 25/01/2019 về ly hôn

Số hiệu:07/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về