Bản án 07/2018/HNGĐ-ST ngày 31/05/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN –TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 07/2018/HNGĐ-ST NGÀY 31/05/2018 VỀ LY HÔN

Trong ngày 31 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở TAND huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2018/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2018/QĐXX-ST ngày 16 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1969. Có mặt.

Địa chỉ: xóm Lung B – xã Nghĩa L – huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An.

2. Bị đơn: Anh Lê Văn L, sinh năm 1967. Vắng mặt.

Địa chỉ: xóm Lung B – xã Nghĩa L – huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 13/3/2018, bản khai và tại phên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Lê Thị T trình bày: Chị Lê Thị Tvà anh Lê Văn Lđăng ký kết hôn tại UBND xã Nghĩa L - huyện Nghĩa Đàn - tỉnh Nghệ An vào ngày 12 tháng 11 năm 1987. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống vợ chồng sống không được hạnh phúc, thường xuyên xẩy ra bất hòa, cãi cọ và chửi bới lẫn nhau đã sống ly thân từ bảy năm nay, không còn gặp gỡ, quan tâm đến nhau và không còn ý thức hàn gắn xây dựng hạnh phúc gia đình. Nay chị T thấy không còn tình cảm với anh L nữa và xin được ly hôn.

Về con cái: vợ chồng có 02 con chung là Lê Văn T sinh ngày 09 tháng 1 năm 1988 và Lê Văn D sinh ngày 04/1/1994. Các con đã trưởng thành nên muốn ở với ai thì tùy các cháu định đoạt.

Về tài sản chung: chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Lê Văn L mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thôngbáo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo hòa giải và mở phiên họp nhưng từ chối không nhận sau đó bỏ đi khỏi địa phương không lên Tòa án làm việc. Tòa án đã tiến hành niêm yết giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử nhiều lần nhưng anh L cố tình vắng mặt, như vậy anh L đã từ bỏ quyền của mình. Do vậy, Tòa án căn cứ vào các chứng cứ thu thập được, căn cứ vào quy định pháp luật, ý kiến của Kiểm sát viên để giải quyết vắng mặt anh Lê Văn L.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa và của Hội đồng xét xử đã làm đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật. Qúa trình giải quyết vụ án đã tuân thủ các quy định của pháp luật, đúng thời gian và trình tự thu thập chứng cứ của đương sự. Đối với các đương sự chị T chấp hành theo quy định của pháp luật còn bị đơn anh Lê Văn L cố tình trốn tránh việc giải quyết ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt anh L.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị T là cho chị Lê Thị T được ly hôn với anh Lê Văn L. Về con cái : đã trưởng thành nên không xem xét. Về tài sản, các đương sự không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí, buộc chị Lương phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiêntoà và căn cứ vào kết  quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết: Xác định quan hệ tranh chấp giữa chịLê Thị T và anh Lê Văn L là “Ly hôn” thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị T và anh Lê Văn L là hôn nhân tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Nghĩa L - huyện Nghĩa Đàn - tỉnh Nghệ An vào ngày 12 tháng 11 năm 1987 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống không hợp nhau, không cùng nhau có ý thức xây dựng cuộc sống gia đình thường xuyên cãi cọ chửi bới đánh đập nhau. Vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm không còn quan tâm đến nhau, không có ý thức hàn gắn xây dựng hạnh phúc gia đình. Nay chị T xét thấy không còn tình cảm với anh L và xin được ly hôn. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị Lê Thị T và anh Lê Văn L là trầm trọng, kéo dài mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy cần căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp thuận yêu cầu của chịLê Thị T là cho chị Lê Thị Tđược ly hôn với anh Lê Văn L.

[3]. Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là Lê Văn T sinh ngày 09 tháng 1 năm 1988 và Lê Văn D sinh ngày 04/1/1994. Các con đã trưởng thành nên ở với ai tùy các cháu quyết định.

[4]. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các điều 28; điều147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị T là cho chị Lê Thị T được ly hôn anh Lê Văn L.

2. Về nuôi con chung: vợ chồng có 02 con chung là Lê Văn T sinh ngày 09 tháng 1 năm 1988 và Lê Văn D sinh ngày 04/1/1994. Các con đã trưởng thành nên ở với ai tùy các cháu quyết định.

3. Về chia tài sản: Đương sự không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

4. Về án phí: Chị Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0001055ngày 19 tháng 3 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị Lê Thị T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt anh Lê Văn L được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.


81
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2018/HNGĐ-ST ngày 31/05/2018 về ly hôn

Số hiệu:07/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nghĩa Đàn - Nghệ An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 31/05/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về