Bản án 07/2018/HNGĐ-ST ngày 17/01/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 07/2018/HNGĐ-ST NGÀY 17/01/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 17 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 184/2017/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2017 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2018/QĐXX-ST ngày 08 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lưu Văn L; sinh năm 1987; Địa chỉ: Nghĩa Phương, phường A, quận B, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Chị Bùi Thị N; sinh năm 1993; địa chỉ: Schneeberger Str 13, 1227 C, Đức; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn, các bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn anh Lưu Văn L trình bày:

Anh và chị Bùi Thị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường A, quận B, thành phố Hải Phòng vào ngày 15/6/2012. Anh chị tự đi đăng ký kết hôn, gia đình hai bên không biết và chưa tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn anh Linh và chị Nga không chung sống cùng nhau, chị Nga vẫn ở nhà bố mẹ đẻ. Đến năm 2015 thì chị Nga đi du học ở Đức cho đến nay. Hiện tại vợ chồng mỗi người sống một nơi, không có sự gắn kết, bất đồng quan điểm sống, không thông cảm cho nhau, vợ chồng sống ly thân. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng mỗi người một nơi, không có khả năng đoàn tụ nên anh đề nghị Toà án giải quyết cho anh chị được ly hôn

Về con chung : Anh chị không có con chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết

Về tài sản chung : Anh chị không có tài sản chung nên không yêu cẩu Toà án giải quyết.

Về án phí ly hôn : Anh Linh tự nguyện chịu cả án phí ly hôn sơ thẩm.

Chị Bùi Thị N có đơn xin ly hôn nộp tại Tòa án ngày 02/01/2018. Trong đơn xin ly hôn, chị Nga thống nhất với lời trình bày của anh Linh về việc kết hôn, quá trình chung sống, mâu thuẫn vợ chồng. Chị xác nhận đến nay tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn. Về con chung và tài sản chung: Chị thống nhất với lời trình bày của anh Linh.

Tại phiên toà, nguyên đơn là anh Lưu Văn L vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với chị Bùi Thị N. Bị đơn chị Bùi Thị N vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Anh Lưu Văn L và chị Bùi Thị N cùng có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết việc hôn nhân của anh chị, chị Nga hiện đang cư trú tại Cộng hòa liên bang Đức. Theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về tố tụng: Chị Bùi Thị N là bị đơn trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân:

Anh Lưu Văn L và chị Bùi Thị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký  kết hôn tại UBND phường A, quận B, thành phố Hải Phòng vào ngày 15/6/2012. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Anh Linh và chị Nga đều xác định vợ chồng bất hòa trong cuộc sống, quan điểm sống khác nhau, vợ chồng không hạnh phúc. Vợ chồng đã ly thân, tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy anh Lưu Văn L và chị Bùi Thị N cùng đề nghị được ly hôn là tự nguyện. Xét mục đích hôn nhân của hai người không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lưu Văn L và chị Bùi Thị N theo quy định khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về con chung: Anh Linh, chị Nga không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Anh Linh, chị Nga không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Lưu Văn L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228,  Điều 273, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lưu Văn L và chị Bùi Thị N được ly hôn.

[2] Về con chung: Anh Lưu Văn L và chị Bùi Thị N không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về tài sản chung: Anh Lưu Văn L và chị Bùi Thị N không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Lưu Văn L phải chịu 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, anh Linh được trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010562 ngày 20/12/2017 tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh Linh đã nộp đủ.

[5] Về quyền kháng cáo:

Anh Lưu Văn L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Chị Bùi Thị N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2018/HNGĐ-ST ngày 17/01/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:07/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:17/01/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về