Bản án 05/2018/HC-PT ngày 08/01/2018 về buộc công khai xin lỗi và bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 05/2018/HC-PT NGÀY 08/01/2018 VỀ BUỘC CÔNG KHAI XIN LỖI VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TỔN THẤT TINH THẦN

Ngày 08 tháng 1 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân cấ p cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 16/2017/TLPT -HC ngày 02 tháng 2 năm 2017, do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 10/2016/HC-ST ngày 17 tháng 11 năm 2016 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4400/2017/QĐ-PT ngày 14 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

* Người khởi kiện: Bà Đặng Thị D, sinh năm 1940; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương. Có mặt.

Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Bà Đinh Thị Hiên; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Ông Đinh Ngọc P– Luật sư của Văn phòng luật sư T1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Hải Dương. (Có mặt ông Đinh Ngọc P, vắng mặt ông Nguyễn Thanh B1).

* Người bị kiện:

- Ủy ban nhân dân huyện T và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Hải Dương.

Đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T: Ông Bùi Hữu T2 – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương.

Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm Xuân L – Chủ tịch UBND xã Đ. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đình N – Trưởng Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 29/9/2014, đơn khởi kiện bổ sung ngày 05/11/2014, ngày 04/7/2016, bản tự khai, người khởi kiện bà Đặng Thị D, người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà D trình bày:

Do không đồng ý với kết quả dồn điền đổi thửa của Thôn B, xã Đ đối với 10,3 mẫu ruộng đã được quy hoạch tại khu X1 và khu X2. Trong đó gia đình bà có 1,25 sào ruộng ở khu X1. Sau khi dồn ô đổi thửa năm 2013 thì các thửa này lại chia nhỏ theo đầu người được giao ruộng tiêu chuẩn năm 1993 trong toàn thôn; khu X1 36 m2/người, khu X2 10 m2 người; theo đó bà được chia 0,15 sào ở khu X2 và 0,15 sào ở khu X1. bà D khiếu nại, Chủ tịch Ủy ban nhân dân (viết tắt UBND) xã Đ giải quyết nhưng bà không đồng ý và tiếp tục khiếu nại lần 2, Chủ tịch UBND huyện T ban hành quyết định giải quyết khiếu nại số 1298/QĐ -UBND ngày 25/8/2014, với nội dung không chấp nhận khiếu nại của bà D, công nhận kết quả dồn điền đổi thửa của Thôn B, xã Đ. Vì thế bà có đơn khởi kiện yêu cầu:

+ Hủy quyết định hành chính Quyết định giải quyết khiếu nại (lần 2) số 1298/QĐ-UBND ngày 25/8/2014 của Chủ tịch UBND huyện T về việc công nhận kết quả dồn ô đổi thửa của Thôn B, xã Đ.

+ UBND huyện T đã không thực hiện hành vi hành chính về trách nhiệm kiểm tra, hướng dẫn đối với UBND xã Đ và Trưởng Thôn B xã Đ thực hiện đúng mục đích yêu cầu và nguyên tắc theo các kế hoạch của UBND tỉnh và UBND huyện về v iệc dồn ô đổi thửa.

+ Buộc UBND huyện, Chủ tịch UBND huyện, UBND xã Đ, Trưởng Thôn B phải công khai xin lỗi gia đình bà.

+ Buộc UBND xã Đ phải trả lại cho gia đình bà 1,25 sào ruộng ở khu X1 và bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần đối với gia đình bà số tiền 15.670.000 đồng.

Ngưi bị kiện UBND xã Đ do Chủ tịch UBND xã đại diện qua các thời kỳ (Nguyễn Văn Tuấn, Phạm Xuân L) trình bày. Thực hiện Kế hoạch số 1704/KH-UBND ngày 13/9/2014 của UBND tỉnh, Kế hoạch số 29/KH-UBND ngày 02/10/2014 của UBND huyện T và Đề án số 01/ĐA-UBND ngày 02/01/2014 của UBND xã Đ. UBND xã Đ thành lập Ban chỉ đạo, Tiểu ban dồn ô đổi thửa theo kế hoạch của huyện, của tỉnh là không sai, được nhân dân trong xã đồng thuận, nhất trí thực hiện đạt kết quả tốt. Ruộng khu X1 và khu X2 đã được quy hoạch sử dụng vào mục đích chung được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Theo đó, 2 khu ruộng có diện tích 10 mẫu 3 sào sẽ được thu hồi có đền bù trong thời gian tới. Vì vậy, nhân dân và lãnh đạo Thôn B đã tổ chức họp dân để bàn bạc, thảo luận dân chủ, thống nhất chia đều ruộng theo đầu người trong thôn; nên Lãnh đạo và UBND xã tôn trọng ý kiến của đại đa số nhân dân trong thôn (chỉ có 07 hộ không đồng ý). Và theo đó, tiêu chuẩn bà D được chia là 0,65 sào nhưng thôn không giao cho bà canh tác mà giao theo nhóm, khi nào nhà nước thu hồi sẽ bồi thường sau, chứ không phải giao 0,15 sào ở khu X2 và 0,15 sào ở khu X1 cho bà D canh tác như bà D trình bày.

UBND huyện T, Chủ tịch UBND huyện T ủy quyền cho ông Bùi Hữu T2 — Phó chủ tịch thường trực UBND huyện đại diện trình bày:

Công tác dồn ô đổi thửa chỉnh trang đồng ruộng là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm khắc phục tình trạng manh mún, tạo điều kiện cho việc cơ giới hóa. Chủ trương đó đã được cụ thể hóa bằng các văn bản như Kế hoạch số 1704/KH- UBND ngày 13/9/2013 của UBND tỉnh; và Kế hoạch số 29/KH-UBND ngày 02/10/2013 của UBND huyện T. Căn cứ vào sự chỉ đạo của cấp trên và các văn bản chỉ đạo của huyện, tỉnh; UBND xã Đ đã triển khai và thực hiện công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn xã. Đến nay, công tác dồn điền đổi thửa của xã Đ đã thực hiện xong. Kết quả được đại đa số nhân dân trong xã nhất trí, ủng hộ. UBND xã Đ đã thực hiện việc dồn điền đổi thửa đảm bảo đúng nguyên tắc, mục đích mà các kế hoạch cấp trên đề ra. bà D khởi kiện hành vi hành chính của UBND huyện không kiểm tra giám sát, lãnh đạo, chỉ đạo UBND xã Đ thực hiện đúng kế hoạch của cấp trên, đề án của xã về công tác dồn điền đổi thửa là không đúng. Vì đây là lĩnh vực chỉ đạo và quản lý hành chính Nhà nước của cấp trên với cấp dưới, không phải là hành vi hành chính liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, không phải là đối tượng khởi kiện. UBND huyện T không chấp nhận yêu cầu này của bà D. Chủ tịch UBND huyện T ban hành Quyết định số 1298/QĐ-UBND ngày 25 tháng 8 năm 2014, về việc giải quyết khiếu nại của bà D là đúng về trình tự, hình thức, thẩm quyền áp dụng các quy định pháp luật, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà D.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 10/2016/HC-ST ngày 17/11/2016, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương quyết định:

Áp dụng các khoản 1 Điều 31, khoản 4 Điều 32, khoản 1, 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, Điều 29, Điều 40, điểm c khoản 2 Điều 131 Luật Đất đai, khoản 1 Điều 27, khoản 2 Điều 34, Pháp lệnh số 10/2009 về án lệ phí tòa án, xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu của bà Đ ặng Thị D, về:

- Yêu cầu UBND huyện T phải thực hiện hành vi hành chính về kiểm tra, hướng dẫn, giám sát UBND xã Đ, huyện T thực hiện đúng mục đích, yêu cầu, nguyên tắc dồn ô đổi thửa.

- Yêu cầu buộc UBND huyện T, Chủ tịch UBND huyện T, UBND xã Đ, Trưởng Thôn B xã Đ, huyện T phải công khai xin lỗi.

- Yêu cầu bồi thường do 3 năm không canh tác được ruộng và tiền bồi thường tổn thất tinh thần.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đ ặng Thị D, về:

- Hủy một phần Quyết định hành chính số 1298/QĐ -UBND ngày 25/8/2014 của Chủ tịch UBND huyện T về “công nhận kết quả dồn điền đối với diện tích 10 mẫu 3 sào ở khu X1 và khu X2 Dơi của Thôn B, xã Đ, huyện T.

- Hành vi của UBND xã Đ, Trưởng Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương tổ chức chia nhỏ ruộng đối với diện tích 10 mẫu 3 sào tại khu X1 và khu X2 dơi ở Th ôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương là không đúng pháp luật. Trong đó hộ gia đình bà D có 1,25 sào ruộng ở khu X1.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 30 tháng 11 năm 2016, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương kháng nghị một phần bản án sơ thẩm, đề nghị sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 10/2016/HC-ST ngày 17/11/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Ngày 30 tháng 11 năm 2016, người khởi kiện là bà Đ ặng Thị D kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa Luật sư bào chữa cho bà D và bà D đề nghị hủy các quyết định của UBND xã Đ, UBND huyện T và trả lại đất nguyên trạng cho gia đình bà, đồng thời thống nhất rút kháng cáo với nội dung: yêu cầu UBND huyện T, Chủ tịch UBND huyện T, UBND xã Đ huyện T phải công khai xin lỗi và bồi thường tổn thất tinh thần cho gia đình bà, giữ nguyên các nội dung kháng cáo khác đối với bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa đề nghị áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 241 luật tố tụng hành chính chấp nhận kháng cáo của bà Đặng Thị D, giữ nguyên phần quyết định của Bản án sơ thẩm về việc không chấp nhận yêu cầu “ Buộc UBND huyện T, Chủ tịch UBND huyện Thanh Miện phải công khai xin lỗi và bồi thường thiệt hại về tinh thần cho gia đình bà Đ ặng Thị D. Hủy các phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm trả hồ sơ đ ể tòa sơ thẩm xét xử lại theo quy định của pháp luật.

Căn cứ chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự, ý kiến của kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng: Khi thụ lý đơn khởi kiện, Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện đối với Quyết định số 15/QĐ-UBND ngày 24/3/2014 của UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương là không xem xét toàn diện vụ án, vi phạm Khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật tố tụng hành chính năm 2010 và Điều 118, Điều 122, Khoản 1 Đ iều 193 Luật tố tụng Hành chính năm 2015.

[2]. bà D kháng cáo cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm hủy một phần Quyết định hành chính số 1298/QĐ-UBND ngày 25/8/2014 của Chủ tịch UBND huyện T về “công nhận kết quả dồn điền đối với diện tích 10 mẫu 3 sào ở khu ruộn g sau Chùa và khu X2 dơi của Thôn B, xã Đ, huyện Tvà xác định “hành vi của UBND xã Đ, Trưởng Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương tổ chức chia nhỏ ruộng đối với diện tích 10 mẫu 3 sào tại khu X1 và khu X2 dơi ở Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương là không đúng pháp luật. Trong đó hộ gia đình bà D có 1,25 sào ruộng ở khu X1 ”, nhưng không xác định cơ quan làm sai phải trả lại ruộng cho gia đình bà D, thấy:

Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét Quyết định số 15/QĐ-UBND ngày 24/3/2014 của UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương, nhưng xác định hành vi của UBND xã Đ không đúng pháp luật, là chưa có cơ sở vững chắc.

Hành vi của Trưởng Thôn B, xã Đ không phải là đối tượng hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 3 Điều 3 và Điề u 30 Luật tố tụng Hành chính. Tòa án cấp sơ thẩm xác hành vi Trưởng Thôn B, xã Đ không đúng pháp luật là vượt qua thẩm quyền. Vì vậy, cần hủy phần quyết định về việc “xác hành vi Trưởng Thôn B, xã Đ không đúng pháp luật” của Tòa án cấp sơ thẩm để Tòa án cấp sơ thẩm xem xét đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này của đương sự theo quy định của pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm không buộc cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ, công vụ; đồng thời, kiến nghị cách thức xử lý đối với quyết định hành chính trái pháp luật đã bị hủy vi phạm điểm b Khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng Hành chính năm 2015.

[3]. Về kháng cáo yêu cầu xem xét bồi thường về vất chất của bà D, thấy:

Tòa án cấp sơ thẩm hủy một phần Quyết định hành chính số 1298/QĐ-UBND ngày 25/8/2014 của Chủ tịch UBND huyện T nêu trên và xác định hành vi của UBND xã Đ, Trưởng Thôn B, xã Đ không đúng phát luật nhưng không thu thập chứng cứ xác định thiệt hại do quyết định, hành vi hành chính trái pháp luật gây ra nhưng bác yêu cầu bồi thường của bà D là trái quy định tại Điều 7 Luật Tố tụng Hành chính năm 2015 và Khoản 8 Điều 13 Luật bồi thường nhà nước.

[4]. Tại đơn khởi kiện và đơn kháng cáo bà D yêu cầu buộc UBND huyện T, Chủ tịch UBND huyện T, UBND xã Đ, Trưởng Thôn B, xã Đ, huyện T phải công khai xin lỗi và bồi thường tổn thất tinh thần. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 18 Luật bồi thường nhà nước bác yêu cầu của bà D. bà D có đơn kháng cáo, tại phiên tòa phúc thẩm, bà D rút đơn kháng cáo về vấn đề này. Vì vậy, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu này của đương sự.

[5]. bà D kháng cáo cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu UBND huyện T phải thực hiện hành vi hành chính về kiểm tra, hướng dẫn, giám sát UBND xã Đ, huyện T thực hiện đúng mục đích, yêu cầu, nguyên tắc dồn ô đổi thửa là không đúng. Hội đồng xét xử nhận thấy: thực hiện việc dồn điền, đổi thửa thuộc nhiệm vụ của UBND huyện T và Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Hải Dương. UBND xã và Trưởng Thôn B, xã Đ là đơn vị, cá nhân cấp dưới thực hiện nhiệm vụ do UBND huyện giao, chịu trách nhiệm trước UBND huyện. Trường hợp UBND xã thực hiện không đúng phải chịu trách nhiệm với UBND huyện. Hành vi hành chính về kiểm tra, hướng dẫn, giám sát UBND x ã Đ và Trưởng Thôn B, xã Đ là hành vi nội bộ, không phải đối tượng khởi kiện vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm h, Khoản 1, Điều 143 Luật Tố tụng Hành chính năm 2015 đình chỉ giải quyết yêu cầu này của người khởi kiện nhưng là bác yêu cầu là không đúng.

[6]. Về án phí sơ thẩm: Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu bồi thường của bà D nhưng không buộc bà D phải chịu án phí có giá ngạch là sai. Tòa án cấp sơ thẩm buộc Trưởng Thôn B, xã Đ phải chịu án phí phúc thẩm là sai.

[7]. Vì vậy, cần chấp nhận đơn kháng cáo của bà D và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương hủy một phần bản án sơ thẩm.

[8]. Án phí phúc thẩm: do kháng cáo của bà D được chấp nhận nên bà D không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên, căn cứ khoản 3 Điều 241 Luật Tố tụng Hành chính, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

QUYẾT ĐỊNH

[1]. Chấp nhận rút một phần kháng cáo của bà Đặng Thị D; đình chỉ phần Bản án hành chính sơ thẩm số 10/2016/HC-ST ngày 17/11/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương về việc không chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Thị D về việc buộc UBND huyện T, Chủ tịch UBND huyện T, UBND xã Đ, Trưởng Thôn B xã Đ, huyện T phải công khai xin lỗi và bác yêu cầu bồi thường tiền tổn thất tinh thần.

[2]. Chấp nhận phần kháng cáo của bà Đ ặng Thị D, hủy phần phần còn lại của Bản án hành chính sơ thẩm số 10/2016/HC-ST ngày 17/11/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

[3]. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết lại theo quy định pháp luật.

[4]. Án phí: bà Đặng Thị D không phải chịu án phí Hành chính phúc thẩm, được hoàn lại 200.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm tại biên lai số 0000645 ngày 07 tháng 12 năm 2016 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


895
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về