Bản án 04/2020/DS-ST ngày 12/06/2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 04/2020/DS-ST NGÀY 12/06/2020 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

gân hàng chính sách xã hội Ngày 12 tháng 6 năm 2020, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 29/2019/TLST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2019 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng Ngân hàng chính sách xã hội ”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2020/QĐXXST-DS, ngày 17/04/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 29a/2019/QĐST-DS ngày 14/05/2020, giữa:

-Nguyên đơn: -Ngân hàng Chính sách xã hội, địa chỉ: Toà nhà CC5, bán đảo Linh Đàm, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Bà Bùi Thị Bích Ân – Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. (có mặt) Địa chỉ: 163 Hùng Vương, thị trấn Phú Hòa, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai;

- Bị đơn: Bà Bùi Thị T, sinh năm 1971; (vắng mặt) Địa chỉ: Làng Tuêk, xã Đak Tơ Ver, huyện Chư Păh, Gia Lai.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn Th (Nguyễn Văn Thâm), sinh năm 1971.

Địa chỉ: Làng Tuêk, xã Đăk Tơ Ver, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai.(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 02/8/2019, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn, ông Phạm Hữu Phúc trình bày:

Căn cứ vào giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 01/6/2012, giữa Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH) huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai với bà Bùi Thị T về việc vay vốn chương trình cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn. Ngày 06/06/2012, Phòng giao dịch NHCSXH huyện Chư Păh đã giải ngân (bằng tiền mặt) cho bà Bùi Thị T vay số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), lãi suất 10,8 %/năm, thời hạn 36 tháng, ngày trả cuối cùng 06/06/2015. Cho vay bằng tín chấp (không có bảo đảm bằng tài sản); Đến hết thời hạn vay hộ vay không trả được nợ đã làm đơn đề nghị Ngân hàng CSXH gia hạn trả nợ và đã được Phòng giao dịch Ngân hàng CSXH huyện Chư Păh đồng ý gia hạn đến ngày 06/6/2016. Nhưng bà T không trả nợ đúng theo cam kết đã ký, Ngân hàng SCXH đã chuyển nợ quá hạn toàn bộ số tiền còn dư nợ của gia đình bà T 30.000.000 đồng sang nợ quá hạn. Mặc dù Tổ trưởng tổ vay vốn, cán bộ Phòng giao dịch Ngân hàng CSXH huyện Chư Păh đã đôn đốc gia đình bà T trả nợ nhiều lần nhưng không được. Để thu hồi tài sản cho Nhà nước, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Chư Păh buộc bà Bùi Thị T và ông Nguyễn Văn Th phải trả nợ cho Ngân hàng CSXH số tiền gốc 30.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn tính đến ngày 12/6/2020 là: 27.019.596 đồng, tổng cộng là 57.019.596 đồng (tính đến ngày 12/06/2020) và tiền lãi phát sinh đến ngày tất toán hết món nợ.

-Đối với bị đơn: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Chư Păh đã triệu tập hợp lệ bằng phương thức niêm yết công khai, đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng (Báo công lý số 93, 94, 95 ngày 22, 26, 29/11/2019; Đài Tiếng nói Việt Nam) cho bà Bùi Thị T nhiều lần để tiến hành các thủ tục tố tụng với tư cách là bị đơn trong vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bà T đều vắng mặt không có lý do. Tòa án nhân dân huyện Chư Păh đã đến gia đình bà T xác minh. Kết quả xác minh được bà T có hộ khẩu và nhà ở tại địa phương nhưng không đến Tòa án để làm việc nên vụ án không thể tiến hành hòa giải được.

-Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn Th (vắng mặt) Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Chư Păh đã triệu tập hợp lệ ông Nguyễn Văn Th nhiều lần để tiến hành các thủ tục tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự nhưng ông Th đều vắng mặt không có lý do. Tòa án nhân dân huyện Chư Păh đã xác minh được ông Th còn có tên gọi khác là Th, hiện nay có hộ khẩu tại Làng Tuêk, xã Đak Tơ Ver, huyện Chư Păh nhưng hiện nay sinh sống làm việc ở đâu không rõ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh phát biểu ý kiến:

I. VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG

1. Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

2.Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhiều lần nhưng đã không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

II. Ý KIẾN VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

Ngày 06/06/2012, Phòng giao dịch NHCSXH huyện Chư Păh đã cho bà Bùi Thị T vay số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), lãi suất 10,8 %/năm, thời hạn 36 tháng, ngày trả cuối cùng 06/06/2015. Cho vay bằng tín chấp (không có bảo đảm bằng tài sản); Nhưng bà T không trả nợ đúng theo cam kết đã ký, Ngân hàng SCXH đã chuyển nợ quá hạn toàn bộ số tiền còn dư nợ của gia đình bà T 30.000.000 đồng sang nợ quá hạn. Mặc dù Tổ trưởng tổ vay vốn, cán bộ Phòng giao dịch Ngân hàng CSXH huyện Chư Păh đã đôn đốc gia đình bà T trả nợ nhiều lần nhưng không được. Để thu hồi tài sản cho Nhà nước, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Chư Păh buộc bà Bùi Thị T và ông Nguyễn Văn Th phải trả nợ cho Ngân hàng CSXH số tiền gốc 30.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn tính đến ngày 12/6/2020 là: 27.019.596 đồng, tổng cộng là 57.019.596 đồng (tính đến ngày 12/06/2020) và tiền lãi phát sinh đến ngày tất toán hết món nợ.

Căn cứ các Điều 688, 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự 2015: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của NHCSXH huyện Chư Păh, buộc bà T và ông Th phải trả cho NHCSXH huyện Chư Păh số tiền trên.

- Về án phí: Căn cứ Khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bà T và ông Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 01/6/2012, được Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Chư Păh phê duyệt ngày 05/6/2012, Căn cứ các Điều 471, 474, 478 BLDS 2005 và Điều 688 Bộ luật dân sự 2015, HĐXX xác định quan hệ tranh chấp giữa hai bên là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng vay vốn Ngân hàng chính sách xã hội ”. Giao dịch giữa các bên thực hiện tại Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Chư Păh. Bị đơn có địa chỉ tại Làng Tuêk, xã Đak Tơ Ver, huyện Chư Păh. Vì vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39 và Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chư Păh. Hình thức và nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn phù hợp theo quy định nên được Tòa án chấp nhận.

Đối với bị đơn bà Bùi Thị T và Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Th: Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ bằng phương thức niêm yết các văn bản tố tụng, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định, nhưng bà T, ông Th không đến Tòa án để trình bày ý kiến bảo vệ quyền lợi cho mình và không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại Tòa án và không có yêu cầu phản tố. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung: Xét yêu cầu của nguyên đơn: Theo sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay- thu nợ, ngày 06/6/2012 thì số tiền bị đơn vay của nguyên đơn là 30.000.000 đồng, thời hạn trả nợ cuối cùng là ngày 06/6/2016, lãi suất cho vay trong hạn 0,9%/tháng, lãi suất nợ quá hạn 130% lãi suất khi cho vay. Do không trả nợ đúng theo cam kết đã ký, Ngân hàng SCXH đã chuyển nợ quá hạn toàn bộ số tiền còn dư nợ của hộ gia đình bà T 30.000.000 đồng sang nợ quá hạn. Đến nay thời hạn trả nợ đã hết, nhưng bị đơn không trả nợ cho nguyên đơn, làm ảnh hưởng tới quyền lợi của nguyên đơn. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền trên là có cơ sở, nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả số tiền là 30.000.000 đồng tiền vay gốc và nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn, tổng số lãi tính đến ngày 12/6/2020 là: 27.019.596 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 57.019.596 đồng và tiền lãi phát sinh đến ngày trả hết các khoản nợ cho nguyên đơn.

Đối với ông Nguyễn Văn Th là chồng bà T, là thành viên của hộ gia đình bà Bùi thị T, việc vay vốn của Ngân hàng chính sách mục đích phát triển kinh tế cho hộ gia đình, vì lợi ích chung của hộ. Căn cứ quy định tại Điều 107 Bộ luật dân sự năm 2005 “Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình”. Vì vậy, ông Nguyễn Văn Th phải có nghĩa vụ liên đới cùng với bà T trả nợ cho Ngân hàng chính sách xã hội.

[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật, cụ thể:

57.019.596 đ x 5% = 2.850.980 đồng.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

 Căn cứ vào các khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 106, 107, 280, 285, 290, 474 và 478 BLDS 2005 và Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 và Điều 688 của BLDS 2015;

Căn cứ Điều 147 BLTTDS năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Chính sách xã hội. Buộc bà Bùi Thị T và ông Nguyễn Văn Th phải trả cho Ngân hàng Chính sách xã hội, thông qua Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai số tiền nợ gốc là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng), tiền nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn là 27.019.596 đồng. Tổng số tiền bà T và ông Th phải trả cho Ngân hàng Chính sách xã hội là 57.019.596 đồng (năm mươi bảy triệu không trăm mười chín ngàn năm trăm chín mươi sáu đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay ”.

3.Về tiền án phí: Buộc bị đơn bà Bùi Thị T và ông Nguyễn Văn Th phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 2.850.980 đồng (hai triệu tám trăm năm mươi nghìn chín trăm tám mươi đồng).

4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 04/2020/DS-ST ngày 12/06/2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:04/2020/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chư Păh - Gia Lai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:12/06/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về