Bản án 03/2017/HNGĐ-ST ngày 26/12/2017 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 03/2017/HNGĐ-ST NGÀY 26/12/2017 VỀ LY HÔN

Ngày 26 tháng 12 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý  số: 29/2017/TLST - HNGĐ ngày 16/10/2017 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2017/QĐXXST- HNGĐ ngày 12/12/2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1996 (Có mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1991 (Vắng mặt) Cùng địa chỉ: Thôn 12, xã L, huyện P, Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Tấn T xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long H, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước  ngày 02/7/2014. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp nhau, thường xuyên xảy ra gây gổ, cãi vã nhau, không cùng quan điểm sống. Mâu thuẫn ngày càng trầm T nên vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ đầu năm 2017, không  quan tâm đến nhau nữa. Vì vậy, bà H làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông T.

- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

* Bị đơn ông Nguyễn Tấn T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Lê Thị H xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước  ngày 02/7/2014.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp nhau, thường bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xảy ra cãi vã nhau, không quan tâm đến nhau. Ông xác định tình cảm vợ chồng không thể Hn gắn nên ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà H.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng ông đề nghị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt. Do đó, Tòa án không thể tiến Hnh thủ tục hòa giải đối với ông và bà H theo quy định của pháp luật.

* Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án đã tiến Hnh đúng trình tự thủ tục theo quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H, xử bà Lê Thị H được ly hôn ông Nguyễn Tấn T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng:

Đây là vụ án ly hôn do nguyên đơn bà Lê Thị H làm đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Tấn T theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, do bị đơn ông Nguyến Tấn T có nơi cư trú tại xã L, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Riềng. Bị đơn ông Nguyễn Tấn T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến Hnh xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Nguyễn Tấn T.

2. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Tấn T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước vào ngày 02/7/2014. Do đó, hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Cả bà H và ông T đều thừa nhận nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do tính tình không hợp nhau, thường bất đồng quan điểm sống, do đó vợ chồng thường cãi vã nhau, không quan tâm đến nhau. Bà H và ông T đều xác định tình cảm vợ chồng không thể Hn gắn và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Vì vậy, cần áp dụng Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 ghi nhận sự tự nguyện ly hôn của bà H và ông T.

Về con chung và về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa ángiải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự đều xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị Quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Toà án.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa bà Lê Thị H và ông Lê Tấn T.

Các vấn đề khác các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2/ Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 026084 ngày 16/10/2017 của Chi cục Thi Hành án dân sự huyện Phú Riềng, Bình Phước.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

225
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2017/HNGĐ-ST ngày 26/12/2017 về ly hôn

Số hiệu:03/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Riềng - Bình Phước
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:26/12/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về