Bản án 02/2019/HS-ST ngày 23/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 02/2019/HS-ST NGÀY 23/01/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 23 tháng 01 năm 2019, tại Trụ sở TAND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2018/TLST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: ĐMA, sinh ngày 06/11/1985 tại: Xã N, huyện S, Tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn G, xã N, huyện S, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không;

quc tịch: Việt Nam; Bố: Đỗ Minh Tôn (Đã chết), Mẹ: Mai Thị Liên - Sinh năm 1956; Gia đình có 06 anh em, ĐMA là con thứ 6; bị cáo có vợ Nguyễn Thị Huyền – Sinh năm 1989. Hiện nay ở thôn Hanh Gia, xã N, huyện S, tỉnh Thanh Hóa, có 02 con. Con lớn nhất sinh năm 2010 con nhỏ nhất sinh năm 2013.

Tiền án: 02 tiền án.

Tại bản án số 06/2016/HSST ngày 07/3/2016 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện S xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, ra tù ngày 25/01/2017.

Tại bản án số 141/2018/HSST ngày 28/6/2018 bị cáo bị Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2018.

Tại bản án số 21/2018/HSST ngày 17/7/2018 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện S xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Tiền sự: Không:

Bị cáo đang bị lưu giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Thanh Hóa theo đề nghị của TAND huyện Yên Định để chờ xét xử.

- Người bào chữa: Bà Lê Thị Hằng, sinh năm 1987 Là Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thanh Hóa.

- Người bị hại: T, sinh năm: 1983 Trú tại: Thôn L, xã T, huyện Yên Định, Thanh Hóa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: H, sinh năm 1971 Trú tại: Thôn L, xã T, huyện Yên Định, Thanh Hóa.

- Các người làm chứng:

1. Hà Thị Long, sinh năm 1977 Trú tại: Khu 3, Thị trấn Quán Lào, huyện Yên Định, Thanh Hóa;

2. Trần Thị Khải, sinh năm 1964 Trú tại: Thôn Thành Phú, xã Định Tường, huyện Yên Định, Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt bị cáo và người bào chữa, vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào chiều ngày 17/3/2018, ĐMA sinh năm 1985 trú tại thôn Hanh Gia, xã N, huyện S, tỉnh Thanh Hóa bắt xe bus từ thành phố Thanh Hóa đến huyện Yên Định. Khi đến bến xe bus gần ngã tư thị trấn Quán Lào, huyện Yên Định, ĐMA xuống xe, sau đó đi bộ qua ngã tư thị trấn, theo Quốc lộ 45 đến cổng chợ Thị trấn Quán Lào, ĐMA rẽ vào chợ một đoạn rồi ngồi nghe nhạc tại vỉa hè trên đường vào chợ, cạnh cửa hàng tạp hóa Lâm Lộc. Lúc này ĐMA mặc áo cọc tay màu trắng, mặc quần bò, chân đi giày, đầu đội mũ bảo hiểm và sử dụng tai phone để nghe nhạc. Khoảng 17 giờ cùng ngày, trong lúc ngồi nghe nhạc ĐMA phát hiện có một chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave anpha, màu đen bạc, biển kiểm soát 36B4 – 691.56 của chị T, sinh năm 1983, trú tại thôn 1, xã T, huyện Yên Định đang dựng bên trái theo chiều từ đường quốc lộ 45 đi vào chợ, cách vị trí ĐMA ngồi khoảng 5m, cách đường quốc lộ 45 khoảng 20m, đầu xe hướng vào trong chợ, đuôi xe hướng ra ngoài đường. Phát hiện xe không có người trông coi, quản lý, ĐMA đi lại vị trí dựng chiếc xe, dùng vam bằng kim loại hình chữ T đã chuẩn bị sẵn từ trước, cắm vào ổ khóa điện rồi phá khóa xe. Sau khi phá được ổ khóa điện, ĐMA điều khiển xe đi thẳng vào bên trong chợ Quán Lào và đi ra quốc lộ 45 qua cổng khác của chợ, sau đó điều khiển xe về Thành phố Thanh Hóa, rồi mang xe đến huyện Hà Trung cầm cố cho ĐVT sinh năm 1974 ở Tiểu khu 2, thị Trấn Hà Trung, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa lấy số tiền 2.500.000 đồng tiêu xài cá nhân.

Sau khi bị mất xe máy, chị T đã làm đơn trình báo cơ quan Công an về việc bị kẻ gian trộm cắp xe. Quá trình điều tra phát hiện ngày 29/3/2018 ĐMA còn trộm cắp 01 xe máy tại Phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa bị bắt quả tang và bị tạm giam theo lệnh của Công an Thành phố Thanh Hóa. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Yên Định đã phối hợp với Công an Thành phố Thanh Hóa tiến hành đấu tranh đối với ĐMA, cùng với việc thực nghiệm hiện trường, trích xuất camera, nhận dạng hình ảnh, ĐMA đã khai nhận toàn bộ hành vi bị cáo thực hiện trộm cắp chiếc xe máy của chị T ngày 17/3/2018 tại Thị trấn Quán Lào.

Ngày 13/4/2018 Hội đồng định giá tài sản huyện Yên Định đã kết luận:

Chiếc xe máy của chị T, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave anpha đen bạc, BKS 36B4 – 691.56 có giá trị 13.400.000 đồng.

Trong quá trình điều tra ĐMA đã thành khẩn khai nhận tội, lời khai nhận tội của ĐMA phù hợp với lời khai của bị hại, của người làm chứng, hình ảnh trích xuất camera, cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Trong vụ án còn có ĐVT (Đ/c: Tiểu khu 2, Thị trấn Hà Trung, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa) là người mà ĐMA khai đã nhận cắm xe, nhưng quá trình điều tra Trường không thừa nhận, hiện nay Trường thường xuyên vắng mặt tại địa phương, nên Cơ quan Điều tra không làm việc được và không thu hồi được tài sản bị mất. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục tiến hành xác minh và sẽ xử lý sau, khi có đủ căn cứ.

Tại bản cáo trạng số 54 ngày 11/12/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định đã truy tố bị cáo ĐMA về tội Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để xử phạt bị cáo ĐMA từ 24 đến 30 tháng tù, kể từ ngày tạm giam 29/3/2018.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo ĐMA phải bồi thường cho chị T giá trị của chiếc xe theo định giá là 13.400.000đ.

Về xử lý vật chứng: Chiếc xe máy biển kiểm soát 36B4 – 691.56 của chị T hiện nay không thu hồi được nên không xem xét.

Về án phí: Đề nghị miễn toàn bộ án phí cho bị cáo ĐMA.

Tại phiên tòa người bào chữa có quan điểm bào chữa cho bị cáo như sau:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điêu 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo ĐMA 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và miễn toàn bộ án phí cho bị cáo vì bị cáo thuộc hộ cận nghèo.

Tại phiên tòa bị cáo ĐMA khai nhận toàn bộ hành vi mà mình đã thực hiện đúng như Cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan điều tra Công an huyện Yên Định, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo ĐMA thừa nhận: Vào khoảng 17 giờ ngày 17/3/2018 bị cáo đã có hành vi lợi dụng lúc chủ sở hữu tài sản không có điều kiện trông coi, quản lý, lén lút trộm cắp 01 chiếc xe máy của chị T, có giá trị theo định giá là 13.400.000 đồng. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo ĐMA phạm tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Mặc dù bị cáo có 2 tiền án, nhưng vì khi bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp ngày 17/3/2018 thì chưa có bản án có hiệu lực pháp luật xét xử bị cáo về các hành vi trộm cắp mà tòa án nhân dân huyện S và Thành phố Thanh Hóa xét xử năm 2018, nên bị cáo chỉ bị truy tố, xét xử theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với hành vi trộm cắp thực hiện ngày 17/3/2018.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và hình phạt:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự. Bị cáo đang trong độ tuổi lao động, không chịu làm ăn, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc trông giữ để chiếm đoạt tài sản, phục vụ mục đích cá nhân. Hơn nữa trong một thời gian ngắn, bị cáo đã thực hiện nhiều hành vi trộm cắp tài sản ở nhiều địa phương khác nhau, đã bị Tòa án nhân dân huyện S và Thành phố Thanh Hóa xét xử. Vì vậy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo Điều 38 Bộ luật hình sự để cải tạo bị cáo thành công dân tốt, đồng thời giáo dục và phòng ngừa chung.

Do bản án xét xử đối với bị cáo ĐMA của Tòa án huyện S và Thành phố Thanh Hóa đã có hiệu lực pháp luật, chưa được tổng hợp, nên áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự 2015, Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt của các bản án này, buộc bị cáo ĐMA phải chấp hành hình phạt chung.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trước khi thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy của chị T, năm 2016 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện S xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, lại tiếp tục thực hiện tội phạm. Do vậy bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng là “tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về phạt bổ sung: Bị cáo ĐMA không có thu nhập, không có tài sản riêng và thuộc hộ cận nghèo nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Chiếc xe của vợ chồng chị T (mang tên chồng chị T là anh H) bị ĐMA trộm cắp không thu hồi được. Nên cần xem xét chấp nhận yêu cầu của chị T, buộc bị cáo ĐMA phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho vợ chồng chị T, anh H giá trị của chiếc xe theo định giá là 13.400.000đ. Ngoài ra chị T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 36B4 – 691.56 của chị T, xe mang tên chồng chị T là anh H hiện nay không thu hồi được nên không có sở xử lý.

Đi với 01 thanh kim loại hình chữ T dài 12cm, thanh ngang 10 cm, bề ngoài bọc bằng vải kẻ sọc, đã qua sử dụng, có nhiều vết hoen rỉ, là công cụ phương tin để ĐMA thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Sau khi trộm cắp tài sản tại Thị Trấn Quán Lào, ĐMA đã sử dụng để trộm cắp tài sản ở Thành phố Thanh Hóa, bị bắt quả tang, đã bị xử lý theo bản án số 141/2018/HSST ngày 28/6/2018 của TAND Thành phố Thanh Hóa, bị tiêu hủy theo Biên bản tiêu hủy tang vật (tại mục 23) ngày 12/9/2018 của Chi cục THADS Thành phố Thanh Hóa, nên không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo là phù hợp với điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 357, các điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 260, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố: Bị cáo ĐMA phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo ĐMA 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tổng hợp với 12 (Mười hai) tháng tù theo Bản án số 21/2018/HS-ST ngày 17/7/2018 của TAND huyện S, và 18 (Mười tám) tháng tù theo Bản án số 141/2018/HSST ngày 28/6/2018 của TAND Thành phố Thanh Hóa, buộc bị cáo ĐMA phải chấp hành hành phạt chung cho cả 3 bản án là 54 (Năm mươi tư) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 29/3/2018 (Ngày tạm giam theo Lệnh tạm giam của Công an Thành phố Thanh Hóa).

2. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo ĐMA phải bồi thường giá trị chiếc xe bị trộm cắp cho vợ chồng chị T, anh H (Đ/c: Thôn L, xã T, huyện Yên Định, Thanh Hóa) số tiền 13.400.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thi hành thì hàng tháng còn phải chịu lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành.

3. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí cho bị cáo ĐMA.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.


15
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2019/HS-ST ngày 23/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:02/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Định - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 23/01/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về