Bản án 02/2019/HNGĐ-ST ngày 01/03/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 02/2019/HNGĐ-ST NGÀY 01/03/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 01 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 55/2019/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2019 về việc: Không công nhận là vợ chồng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2019/QĐXX-ST ngày 18 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự :

1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị L - SN 1972 “có mặt”

ĐKHK: Đường T, phường L, thành phố T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi ở hiện nay: Chung cư P, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bị đơn: Anh Lữ Văn T - SN 1965 “vắng mặt”

Trú tại: Đường T, phường L, thành phố T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Vũ Thị L trình bày:

Chị và anh Lữ Văn T chung sống với nhau vào năm 1990 nhưng không có đăng ký kết hôn. Qúa trình anh chị chung sống đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên xảy ra va chạm, chửi bới, xúc phạm nhau. Do mâu thuẫn căng thẳng nên anh chị đã sống ly thân nhau từ năm 2011 cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm không còn nên đề nghị Tòa án không công nhận chị và anh Lữ Văn T là vợ chồng.

Về con: Anh chị có 02 con chung: Lữ Văn P - SN 1992 và Lữ Mai L2 - SN 2000 (02 cháu đã thành niên)

Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai bị đơn anh Lữ Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Anh thừa nhận anh và chị L chung sống với nhau vào năm 1990 nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình anh chị chung sống có phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống và chị L đã chuyển đi nơi khác ở từ tháng 9/2018 cho đến nay. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án không công nhận anh và chị L là vợ chồng.

Về con: Anh chị có 02 con chung như chị L trình bày là đúng. Hiện các cháu đã thành niên nên các cháu ở với ai do các cháu quyết định.

Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay chị L vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án. Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định. Về nội dung: Đại diện VKS đề nghị Tòa án căn cứ vào Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị L và anh T đều sinh sống tại thành phố T. Chị L có đơn đề nghị Tòa án không công nhận chị và anh T là vợ chồng. Tòa án thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa thụ lý và xét xử vụ án là đúng thẩm quyền. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Tại phiên tòa hôm nay anh T có đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị L đề nghị Tòa án tiến hành xét xử. Hội đồng xét xử căn khoản 1 Điều 228 BLTTDS xét xử vắng mặt anh T là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

- Về hôn nhân: Chị Vũ Thị L và anh Lữ Văn T chung sống với nhau vào năm 1990 trên cơ sở tự nguyện nhưng không có đăng ký kết hôn là hôn nhân không hợp pháp. Việc anh chị kết hôn mà không có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là vi phạm Điều 9 luật HNGĐ. Nay chị L có đơn yêu cầu không công nhận chị và anh T là vợ chồng. Mặc dù anh chị đều thống nhất ly hôn nhưng căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 2 Điều 53 Luật HNGĐ xử không công nhận anh chị là vợ chồng.

- Về con: Anh chị có 2 con chung. Hiện các cháu đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án, chị L phải chịu án phí Hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 1 Điều 9; Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật HNGĐ; khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án;

Về hôn nhân: Không công nhận chị Vũ Thị L và anh Lữ Văn T là vợ chồng.

Về con: Công nhận anh chị có 02 con chung Lữ Văn P - SN 1992 và Lữ Mai L2 - SN 2000 (hiện 02 cháu đã thành niên).

Về tài sản và công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Án phí: Chị Vũ Thị L phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị đã nộp theo biên lai số 0006700 ngày 03/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thanh Hóa (chị L đã nộp đủ án phí).

Chị L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.


49
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2019/HNGĐ-ST ngày 01/03/2019 về ly hôn

Số hiệu:02/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thanh Hoá
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:01/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về