Bản án 01/2019/HS-ST ngày 02/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 9 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 01/2019/HS-ST NGÀY 02/01/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 02 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 150/2018/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2018/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:

Vũ Đình D, giới tính: Nam; Sinh ngày 13 tháng 3 năm 1984 tại Tỉnh B; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm N, xã H, huyện C, tỉnh B; Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Bảo vệ; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Đình E (chết) và bà Nguyễn Thị O; Có vợ tên Nguyễn Thị N (1984) và có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án: Ngày 19/5/2016 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 12/2016/HS-ST; Ngày 03/11/2016 bị Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh B xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 43/2016/HS-ST, Vũ Đình D chưa chấp hành Bản án số 43/2016/HS-ST ngày 03/11/2016. Ngày 10/02/2017 bị Công an tỉnh B ra quyết định truy nã; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo bị giam giữ từ ngày 05/01/2018 đến ngày 11/9/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh đến ngày 19/11/2018 bị bắt tạm giam theo lệnh bắt bị can để tạm giam số 29 ngày 12/11/2018 của Công an Quận 9. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số Đường 2, khu phố 4, phường Phước Long A, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Anh Lê Quang F, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ngô Chí Quốc, phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Anh Lê Văn FF, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ: phường Hiệp Phú, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Đình D và anh Nguyễn Văn K cùng là nhân viên bảo vệ của Công ty Bảo vệ CC, được phân công bảo vệ tại quán “Đồng Hương 5”, số 2, Đường 270B, tổ 12, khu phố 4, phường Phước Long A, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 04/01/2018, Vũ Đình D trực cùng ca với anh Nguyễn Văn K từ 10 giờ 00 phút đến 22 giờ 00 phút tại quán “Đồng Hương 5”. Khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày D nhìn thấy anh K cắm sạc pin điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 8 để trong túi xách phòng bảo vệ nên nảy sinh ý định chiếm đoạt, lợi dụng lúc anh K đi vệ sinh,D lén lút chiếm đoạt điện thoại của anh K bỏ vào túi quần, rồi gọi điện thoại cho bạn là Lê Văn FF đến, nhờ FF cất giữ giùm, hết ca trực D sẽ đến gặp FF ở quán cà phê số 68, Tú Xương, phường Hiệp Phú, Quận 9 để nhận lại điện thoại. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, anh K phát hiện bị mất điện thoại di động nên có báo cho anh Lê Quang F là trực chỉ huy tại chốt bảo vệ biết, sau đó cả hai xem lại camera quan sát tại quán thì phát hiện vào lúc 15 giờ 17 phút ngày 04/01/2018 người lấy trộm điện thoại của anh K chính là Vũ Đình D nên đã trình báo cho Công an phường Phước Long A, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 9, Vũ Đình D đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên.

Đối với Lê Văn FF do không biết điện thoại di động D nhờ cất giữa giùm là tài sản do D trộm cắp mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý là có căn cứ.

Vật chứng vụ án: 01 (Một) điện thoại di động Samsung Galaxy Note 8 theo Kết luận định giá tài sản số 01-2018/KL-ĐGTS ngày 25/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân Quận 9, kết luận giá trị còn lại là 11.800.000 đồng. Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu hồi điện thoại di động Samsung Galaxy Note 8 trả lại cho anh K.

Về dân sự: Anh Nguyễn Văn K đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì khác.

Tại Cáo trạng số: 43/CT-VKSQ9 ngày 30 tháng 3 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Vũ Đình D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Đình D thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với Vũ Đình D về tội trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo th ành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại nên gây ra thiệt hại không lớn, bị cáo đang bị bệnh động kinh. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội khi chưa chấp hành xong hình phạt tù của Bản án số 43/2016/HSST ngày 03/11/2016 của Tòa án nhân dân thị xã , tỉnh B, lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vũ ĐìnhD từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu hồi điện thoại di động Samsung Galaxy Note 8 trả lại cho anh Nguyễn Văn K là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo nhận thấy được hành vi của mình là sai trái xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 9, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 9, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Đình D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét, lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản thực nghiệm điều tra; Biên bản ghi lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 9; Bản tự khai của bị cáo; Lời khai của người bị hại, người làm chứng; Tang vật thu giữ; Kết luận định giá tài sản số 01-2018/KL-ĐGTS ngày 25/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân Quận 9 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 15 giờ 20 phút ngày 04/01/2018 tại quán “Đồng Hương 5”, số 2, Đường 270B, tổ 12, khu phố 4, phường Phước Long A, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Vũ Đình D đã có hành vi lén lút chiếm đoạt một điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 8 có giá trị còn lại là 11.800.000 đồng của anh Nguyễn Văn K. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét, hành vi phạm tội do D gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Mặc dù bị cáo D có tiền sử bệnh động kinh nhưng trong khi gây án và sau khi gây án bị cáo đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Như vậy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình đã gây ra; biết rất rõ việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động chính đáng nên vẫn cố tình phạm tội. Bị cáo có lý lịch nhân thân xấu, đã có tiền án. Đối với Bản án số 43/2016/HS-ST ngày 03/11/2016 của Tòa án nhân dân thị xã , tỉnh B đã xử phạt Vũ Đình D 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng chưa chấp hành lại bỏ trốn, nay lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Điều đó chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật, khi có điều kiện thì bị cáo tiếp tục thực hành vi phạm tội nên cần phải có hình phạt nghiêm minh tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xét trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị cáo đang bị bệnh động kinh. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1, khoàn 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt lẽ ra bị cáo phải chịu.

Đối với Lê Văn FF do không biết điện thoại di động mà Vũ Đình D nhờ cất giữa giùm là tài sản doDtrộm cắp mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý là có căn cứ chấp nhận.

[3] Đối với Bản án số 43/2016/HS-ST ngày 03/11/2016 của Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt Vũ Đình D 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo D chưa chấp hành lại bỏ trốn. Do đó, phải tổng hợp hình phạt của hành vi phạm tội lần này với hình phạt của bản án chưa chấp hành theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn K đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu khác nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Note 8 là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Văn K. Xét, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 9 đã thu hồi, trả lại cho anh K là có căn cứ chấp nhận.

[6] Về án phí: Bị cáo Vũ Đình D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Vũ Đình D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 50; các điểm h, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt Vũ Đình D 01 (một) năm tù.

3. Áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 Tổng hợp hình phạt đã tuyên với hình phạt 06 (sáu) tháng tù theo Bản án số 43/2016/HS-ST ngày 03/11/2016 của Tòa án nhân dân thị xã , tỉnh B. Buộc bị cáo Vũ Đình D phải chấp hành hình phạt tù chung của hai bản án là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 19/11/2018 và được trừ đi thời gian tạm giữ tạm giam là 03 ngày theo Bản án số 43/2016/HS-ST ngày 03/11/2016 của Tòa án nhân dân thị xã, tỉnh Bvà thời gian tạm giữ tạm giam từ ngày 05/1/2018 đến ngày 11/9/2018.

4. Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Vũ Đình D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2019/HS-ST ngày 02/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:01/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 9 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 02/01/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về