Từ khoá: Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản...

Thông tư liên bộ 21-TT/LB năm 1966 hướng dẫn Chỉ thị 153-TTg/TN về việc cho cán bộ, công nhân, viên chức vay tiền mua xe đạp và xe mô tô (hoặc xe máy) do Bộ Tài chính - Bộ Nội thương - Ngân hàng Nhà nước ban hành

Số hiệu: 21-TT/LB Loại văn bản: Thông tư liên tịch
Nơi ban hành: Bộ Nội thương, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Người ký: Trần Dương, Trịnh Văn Bính, Hoàng Quốc Thịnh
Ngày ban hành: 30/06/1966 Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: Đã biết Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

BỘ TÀI CHÍNH-BỘ NỘI THƯƠNG-NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 21-TT/LB

Hà Nội, ngày 30 tháng 06 năm 1966 

 

THÔNG TƯ LIÊN BỘ

HƯỚNG DẪN THI HÀNH CHỈ THỊ SỐ 153-TTG/TN NGÀY 21/12/1965 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC CHO CÁN BỘ, CÔNG NHÂN, VIÊN CHỨC VAY TIỀN MUA XE ĐẠP VÀ XE MÔ TÔ (HOẶC XE ĐẠP MÁY)

Kính gửi:

- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc hội đồng Chính phủ,
- Các đoàn thể ở trung ương ương,
- Các ủy ban hành chính khu, tỉnh thành phố.

 

Thủ tướng Chính phủ đã Chỉ thị số 153-TTg/TN ngày 21-12-1965 về việc cho cán bộ, công nhân, viên chức (dưới đây gọi tắt là công nhân viên chức) vay tiền mua xe đạp, xe mô tô (hoặc xe đạp máy) để có phương tiện phục vụ công tác. Dưới đây Liên bộ Tài chính - Nội thương – Ngân hàng nhà nước hướng dẫn thi hành chỉ thị nói trên về phần cho vay tiền mua xe đạp.

I. ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC MUA CHỊU XE ĐẠP

Do khả năng của Mậu dịch quốc doanh có hạn, mà yêu cầu cung cấp xe đạp thì lớn, nên việc xác định các đối tượng được mua chịu xe đạp phải chặt chẽ, và cần sắp xếp thứ tự ưu tiên như sau:

1. Công nhân, viên chức hiện nay làm công tác có tính chất lưu động mà chưa có xe đạp vì hoàn cảnh túng thiếu.

Tuy nhiên, trong nội bộ mỗi cơ quan, xí nghiệp, nên dành ưu tiên cho những người phải lưu động thường xuyên, cần có xe để đảm bảo sản xuất, công tác, nhưng lại quá túng thiếu, nên chưa mua được xe.

2. Công nhân viên chức làm công tác tỉnh không được chịu mua xe đạp. Cá biệt, đối với những người mà chỗ ở quá xa nơi làm việc, chưa có xe đạp vì quá túng thiếu thì nếu còn xe, cơ quan, xí nghiệp có thể xét chiếu cố và cho mua chịu, sau khi đã bán đủ xe cho những đối tượng nói ở điểm 1.

Công nhân, viên chức đã có xe đạp, nhưng sau ngày 21/12/1965 (ngày có chủ trương của Thủ tướng Chính phủ cho bán chịu xe) đã chuyển nhượng hoặc bán lại xe, thì không được mua chịu xe đạp.

II. TRÁCH NHIỆM VÀ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI ĐƯỢC MUA CHỊU XE ĐẠP.

1. Người được mua chịu xe đạp phải trả ngay khi mua, ít nhất một phần ba tiền chiếc xe đạp. Số tiền còn lại sẽ trừ dần vào lương hàng tháng, trong thời gian nhiều nhất là 18 tháng, theo đúng như quy định trong Chỉ thị số 153-TTg/TN của Thủ tướng Chính phủ.

Trong bất cứ trường hợp nào, người mua chịu xe không được viện lý do để xin kéo dài thời hạn trả nợ quá 18 tháng hoặc xin giảm nợ.

Quy định như trên là để người mua chịu xe đạp tính toán sắp xếp kế hoạch chi tiêu của mình để khi mua xe và trả tiền xe hàng tháng không ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường, đồng thời cũng không ảnh hưởng đến tài chính Nhà nước. Trong quá trình trả nợ, nếu có điều kiện, người mua xe có thể xin trả nợ trừ vào lương hàng tháng một mức cao hơn mức đã dự kiến lúc mua xe, để chóng thanh toán nợ, trước thời hạn.

2. Công nhân, viên chức được mua chịu xe đạp, nếu chưa trả hết số tiền còn chịu thì không được bán lại xe. Sau khi trả hết nợ, nếu muốn bán xe thì phải được Thủ trưởng cơ quan, xí nghiệp, sau khi có ý kiến của công đoàn, cho phép và chi được bán lại trong nội bộ cơ quan, xí nghiệp hoặc cho thương nghiệp quốc doanh, tuyệt đối không được đem ra đổi chác mua bán ở thị trường tự do. Ngành công an sẽ có sự phối hợp để quản lý qua việc đăng ký xe đạp.

3. Người mua chịu sẽ đạp được hưởng giá bán cung cấp nếu:

- Từ trước đến nay chưa có xe đạp;

- Hoặc đã có xe đạp nhưng đã bán cho thương nghiệp quốc doanh hoặc đã nhượng lại cho người khác trong nội bộ cơ quan, xí nghiệp (theo giá thu mua của thương nghiệp quốc doanh), hoặc bị mất xe trong những trường hợp được xác nhận.

Đối với những người đã có xe đạp (không phân biệt là xe trước đây mua lại của cơ quan, hay mua theo phiếu cung cấp, hay mua tự do) nhưng đã bán ở thị trường tự do, bất cứ vì lý do gì, thì phải mua theo giá bán tự do của thương nghiệp quốc doanh, dù được mua chịu hay mua trả tiền ngay.

4. Mỗi người chỉ được mua chịu một xe. Người đã được mua chịu xe thì không được mua chịu xe mô tô ( hoặc xe đạp máy) và ngược lại.

5. Người vay tiền mua xe đạp phải có giấy biên nhận và cam đoan xin trừ vào tiền lương hàng tháng (mẫu số 3-XĐ)([1]).

III. PHÂN PHỐI XE ĐẠP BÁN CHỊU

Tùy theo khả năng vật tư, hàng năm, Thủ tướng Chính phủ sẽ ấn định sổ lượng xe đạp bán chịu cho công nhân, viên chức. Căn cứa vào số lượng xe đó, Bộ Nội thương phối hợp với Bộ tài chính đặt kế hoạch phân phối từng thời kỳ.

Ở các địa phương, khi nhận được chỉ tiêu phân phối xe, cơ quan thương nghiệp sẽ phối hợp với cơ quan tài chính cùng cấp, đặt kế hoạch phân phối cho mỗi cơ quan, xí nghiệp đóng tại địa phương. Sau khi được Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố duyệt kế hoạch bán chịu xe đạp, cơ quan thương nghiệp làm thông báo số lượng xe phân phối cho từng cơ quan, xí nghiệp, đồng thời sao gửi cho cơ quan tài chính để làm tài liệu xét các dự trù mua chịu xe. Thông báo ghi rõ số lượng xe từng loại, giá tiền (cung cấp và tự do).

Về kiểu xe, xe nữ chỉ dành riêng cho nữ công nhân, viên chức được mua thôi.

IV. THỦ TỤC CẤP PHÁT CHO VAY TIỀN MUA XE VÀ THU HỒI NỢ.

1. Lập và xét duyệt dự trù cho vay tiền mua chịu xe.

Tại mỗi cơ quan, xí nghiệp, căn cứ vào số lượng xe được phân phối từng đợt, chính quyền phối hợp với đoàn nghiên cứu, xét duyệt danh sách những người được mua chịu xe, và lập bản dự trù vay tiền (mẫu số 1-XĐ)([2]). Bản dự trù này do thủ trưởng cơ quan, xí nghiệp (hoặc người được ủy nhiệm) ký, sẽ coi là một hợp đồng vay tiền và gửi đến cơ quan tài chính cùng cấp xét, cấp tiền cho vay.

Ngành chủ quản xét và tổng hợp dự trù vay tiền của các đơn vị trực thuộc (mẫu số 2 - XĐ)([3])gửi đến cơ quan tài chính cùng cấp xét cấp tiền cho vay.

Tuy nhiên, để thuận tiện cho việc phân phối và mua xe cũng như việc theo dõi thu hồi nợ, các đơn vị trực thuộc Trung ương đóng tại địa phương (không kể những cơ sở ở nội ngoại thành Hà Nội) có tính chất ổn định, không phải gửi dự trù về Bộ chủ quản tổng hợp, mà gửi đến cơ quan tài chính nơi đơn vị đồng trụ sở xét cấp tiền vay.

Những đơn vị trực thuộc Trung ương đóng tại địa phương, nhưng chỗ ở không được ổn định (thí dụ các công trường cầu đường của Bộ Giao thông vận tải, các công trường thuỷ nông của Bộ Thuỷ lợi, các cơ sở sơ tán của các Bộ, Tổng cục…) gửi bản dự trù về Bộ chủ quản tổng hợp và chuyển đến Bộ Tài chính xét cấp tiền vay.

Đối với những cơ quan, xí nghiệp trực thuộc khu Việt Bắc và Khu Tây Bắc thì dự trù vay tiền gửi đến các Ty tài chính Bắc Thái (đối với khu Việt Bắc) và Sơn La (đối với khu Tây Bắc) giải quyết.

Ở cấp huyện, Ủy ban hành chính huyện lập dự trù chung cho những cơ quan lĩnh lương tại huyện và gửi đến ty tài chính tỉnh xét cấp tiền vay. Đối với những cơ quan chung quanh huyện nhưng do các ty chủ quản trả lương, thì dự trù mua chịu xe với các ty chủ quản.

2. Cấp phát tiền vay mua xe đạp và thanh toán tiền xe với mậu dịch.

Tiền cho công nhân, viên chức vay mua xe đạp do ngân sách nhà nước tạm cấp. Ở Trung ương, Bộ tài chính tạm cấp vào ngân sách Trung ương. Ở địa phương, Sở, Ty tài chính tạm cấp vào ngân sách địa phương. Tiền cho vay mua xe đạp không cấp cho cá nhân hoặc đơn vị vay tiền mà sẽ chuyển khoản cho công ty kinh doanh xe đạp.

Tiền cho vay mua xe đạp thu hồi hàng tháng không nộp vào ngân sách nhà nước mà sẽ nộp vào tài khoản riêng (tài khoản 733, tiểu khoản 02 “ tiền cho vay mua xe đạp”) của cơ quan tài chính mở tại Ngân hàng Nhà nước để làm vốn luân chuyển cho vay mua xe đạp. Trong những đợt sau đợt đầu, nếu vốn này thiếu, thì ngân sách mới tạm cấp thêm. Tuyệt đối không được dùng tiền ở tài khoản trên để chi vào việc nào khác ngoài việc cho vay mua xe đạp.

Cơ quan tài chính, sau khi cấp tiền vay mua xe đạp, sẽ cấp cho đơn vị được vay tiền một giấy giới thiệu mua xe đạp (mẫu số 5-XĐ)([4])và gửi đến Ngân hàng Nhà nước (hoặc Ngân hàng kiến thiết) nơi đơn vị mở tài khoản, thông báo khấu trừ lương hàng tháng (mẫu số 4-XĐ)([5]).

Căn cứ vào giấy giới thiệu, đối chiếu với giấy báo Có của ngân hàng, công ty kinh doanh xe đạp thu đủ số tiền mặt của đơn vị phải thanh toán và cấp cho đơn vị các phiếu lĩnh xe (mỗi xe cấp một phiếu, trong đó ghi rõ loại xe, kiểu xe, giá tiền, thời hạn lĩnh xe, cửa hàng giao xe).

Đơn vị phân phối phiếu lĩnh xe cho người mua để tự đi lĩnh xe ở cửa hàng quy định. Khi giao xe, cửa hàng cấp hóa đơn cho người mua để tiện sử dụng trong việc đăng ký xe.

3. Theo dõi thu hồi tiền cho vay mua xe đạp.

Việc thu hồi tiền chi vay mua xe đạp bắt đầu từ tháng tiếp ngay sau tháng đơn vị được cấp tiền vay. Thí dụ: được cấp tiền vay tháng 7 thì bắt đầu trừ lương từ tháng 8, được cấp tháng 10 thì bắt đầu trừ lương từ tháng 11.

a) Trách nhiệm của cơ quan xí nghiệp.

Cơ quan, xí nghiệp vay tiền mua xe đạp có trách nhiệm theo dõi việc thu hồi tiền cho công nhân, viên chức vay bằng cách trừ vào phần lương kỳ đầu của mỗi tháng. Để không ảnh hưởng đến sinh hoạt thường của người mua chịu xe, tiền lương của người đó, sau khi trừ tiền nợ xe đạp, được trả làm hai lần theo tỷ lệ như quy định hiện hành. Thí dụ: ông A lĩnh lương tháng 70đ, phải trả nợ tiền mua chịu xe đạp mỗi tháng 10đ. Tiền lương còn lại trả như sau:

- Trừ tiền nợ xe đạp vào lương kỳ I: 10 đ

- Được lĩnh lương kỳ I 60% số lương còn lại:

(70đ – 10đ) x 60

 =

36đ

100

- Lương kỳ II còn được lĩnh 40% số lương còn lại:

(70đ – 10đ) x 40

 =

24đ

100

Cơ quan, xí nghiệp có vay tiền mua xe phải mở sổ theo dõi từng người mua xe để ghi số tiền vay, số tiền trừ vào lương hàng tháng.

Việc lập thông báo khấu trừ lương do cơ quan, xí nghiệp vay chịu trách nhiệm gửi hai bản đến cơ quan tài chính.

Trong qúy nếu có thay đổi mức khấu trừ, cần kịp thời lập lại thông báo.

Hàng tháng, khi đến lĩnh lương kỳ I, đơn vị vay nộp cho ngân hàng Nhà nước giấy rút kinh phí kiêm giấy ủy nhiệm chi (nếu là cơ quan hành chính sự nghiệp), hoặc giấy ủy nhiệm chi kèm theo giấy nộp tiền (nếu là xí nghiệp) để trả vào tài khoản “tiền cho  vay mua xe đạp” đúng số tiền đã ghi trong thông báo trừ lương.

Hàng quý, cơ quan, xí nghiệp làm báo cáo tình hình thu hồi nợ gửi đơn vị chủ quản để tổng hợp gửi cơ quan tài chính. Báo cáo cần ghi rõ tổng số tiền được vay, số tiền trả từng qúy, sổ tiền còn nợ.

b) Trách nhiệm của cơ quan tài chính.

Cơ quan tài chính cần mở sổ theo dõi riêng từng đơn vị chủ quản có vay tiền mua xe đạp, đồng thời cũng phải có sổ theo dõi tài khoản “tiền cho vay mua xe đạp” lưu ký ở Ngân hàng Nhà nước để luôn luôn nắm chắc tình hình chi, thu. Hàng tháng, cơ quan tài chính phải đối chiếu sổ sách với Ngân hàng nhà nước về số chi, thu của tài khoản nói trên.

Ngoài ra, mỗi lần cấp lệnh tạm cấp tiền cho vay mua xe đạp, cơ quan tài chính phải ghi sổ riêng để theo dõi việc bỏ vốn ra cho công nhân, viên chức vay mua xe đạp và hoàn lại toàn bộ số vốn đó cho ngân sách Nhà nước sau này, khi có chủ trương đình chỉ việc bán chịu xe.

c) Trách nhiệm của cơ quan Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng kiến thiết.

Các cơ quan này có trách nhiệm, căn cứ vào thông báo khấu trừ lương, hàng tháng thu hồi và nộp tiền khấu trừ vào tài khoản “tiền cho vay mua xe đạp”.

Ngân hàng sẽ chủ động giữ lại phần lương phải trừ đối với những đơn vị không làm đầy đủ thủ tục trích nộp hoặc trả nợ dưới mức ghi trong thông báo trừ lương.

Hàng tháng, Ngân hàng nhà nước lập bản sao kê tài khoản “tiền cho vay mua xe đạp” gửi cho cơ quan tài chính để theo dõi đối chiếu sổ sách.

Đối với những đơn vị do vốn kiến thiết cơ bản đài thọ tiền lương, các chi điểm ngân hàng kiến thiết có trách nhiệm kiểm soát bảng lương và giữ lại số tiền trừ nợ xe đạp như đã ghi trong thông báo. Ngân hàng kiến thiết làm séc chuyển khoản số tiền đó trả cho tài chính vào tài khoản 733 tiểu khoản 02 “tiền cho vay mua xe đạp” lưu ký ở Ngân hàng Nhà nước.

d) Theo dõi nợ khi người vay được điều động đi nơi khác.

Trong trường hợp công nhân, viên chức chưa trả hết tiền vay mua xe đạp mà được điều động đến công tác ở  đơn vị khác, việc theo dõi thu hồi nợ phải hết sức chặt chẽ trên nguyên tắc:

- Người vay có trách nhiệm tiếp tục tài trả nợ khi đến nhận công tác và lĩnh lương tại đơn vị mới;

- Sau khi đơn vị cũ hết trách nhiệm trừ vào lương trả cho người vay đến tháng thôi lĩnh lương ở đơn vị cũ, thì đơn vị mới bắt đầu có trách nhiệm tiếp tục trừ lương của đương sự ngay từ tháng bắt đầu lĩnh lương  tại đơn vị mình;

- Nếu người vay được điều động đến tỉnh khác, cơ quan tài chính nơi mới có trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại của đương sự, trả vào tài khoản “tiền cho vay mua xe đạp” của cơ quan tài chính nơi cũ.

Để đảm bảo thực hiện các nguyên tắc trên đây, cần tiến hành những thủ tục như  sau:

Đối với đơn vị cũ:

- Ghi rõ trên “giấy thôi trả lương” của người vay số tiền còn thiếu và số tháng còn phải trả;

- Báo cho đơn vị mới biết bằng công văn riêng kèm theo giấy biên nhận của đương sự khi vay tiền;

- Lập lại thông báo trừ lương gửi cơ quan tài chính để điều chỉnh mức khẩu trừ (kèm theo giấy báo tên người vay, được điều động công tác đến cơ quan, xí nghiệp ở tỉnh nào).

Đối với đơn vị mới:

- Ghi tên đương sự vào sổ theo dõi người vay tiền mua xe đạp;

- Lập thông báo trừ lương gửi cơ quan tài chính xác nhận và tiếp tục trừ lương của đương sự tại đơn vị mình.

Đối với cơ quan tài chính:

- Nếu người vay chuyển công tác cùng một tỉnh, thì phải xác nhận trên các thông báo trừ lương của đơn vị cũ và đơn vị mới để điều chỉnh mức thu nợ giữa hai đơn vị, trước khi gửi cho ngân hàng;

- Nếu người vay chuyển đi tỉnh khác, cơ quan tài chính nơi cũ xác nhận thông báo trừ lương của đơn vị cũ như trên, đồng thời báo cho cơ quan tài chính nơi mới biết số tiền đương sự còn phải trả nợ, số tháng trả và tên đơn vị tiếp nhận người vay;

- Cơ quan tài chính nơi mới, sau khi xác minh người vay đã đến nhận công tác tại tỉnh mình, làm thư chuyển tiền trích khoản “tiền cho vay mua xe đạp” của địa phương để thanh toán hết số nợ còn lại của đương sự, trả cho cơ quan tài chính nơi cũ (qua vãng lai liên hàng) vào tài khoản “Tiền cho vay mua xe đạp” ở nơi đó.

Số tiền thanh toán này coi như một khoản tạm cấp cho đơn vị tiếp nhận người vay được chuyển đến, nên sau khi báo cho đơn vị đó biết, cơ quan tài chính nơi mới ghi vào sổ theo dõi các đơn vị vay tiền mua xe đạp và đôn đốc việc thu hồi nợ vào tài khoản “Tiền cho vay mua xe đạp” của tỉnh mình.

V. TỔ CHỨC BÁN CHỊU XE ĐẠP.

Việc bán chịu xe đạp cho công nhân, viên chức sẽ tiến hành mỗi quý một đợt vào tháng đầu qúy.

Đợt đầu sẽ tiến hành vào đầu qúy III năm 1966.

Các cơ quan, xí nghiệp cần gửi dự trù vay tiền mua xe đến cơ quan tài chính trước ngày 20 tháng thứ ba của mỗi qúy.

VI. PHẠM VI THI HÀNH.

Chế độ bán chịu xe đạp trên đây áp dụng chung cho các cơ quan hành chính sự nghiệp và các xí nghiệp quốc doanh (kể cả xí nghiệp công tư hợp doanh đã thi hành thống nhất chế độ tiền lương như xí nghiệp quốc doanh) từ cấp huyện trở lên. Các cơ quan Đảng, các đoàn thể quần chúng và các tổ chức xã hội được ngân sách nhà nước trợ cấp thường xuyên, cũng áp dụng chế độ bán chịu xe đạp nói trên.

Riêng đối với các lực lượng vũ trang, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, dựa vào những quy định chung của thông tư này, có văn bản hướng dẫn thi hành trong các cơ quan đơn vị thuộc ngành mình, sau khi thỏa thuận với Bộ Tài chính.

Căn cứ thông tư này, Bộ Nội thương, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước sẽ có những quy định riêng về nghiệp vụ để hướng dẫn trong ngành thi hành thông tư này được thống nhất, đầy đủ và chặt chẽ.

Việc bán chịu xe cho công nhân, viên chức có một số khó khăn, phức tạp, nhu cầu của công nhân, viên chức thì lớn mà khả năng cung cấp xe thì hạn chế nên chỉ giải quyết được trong một chừng mực nhất định; thời gian thu hồi đủ vốn cho vay về ngân sách Nhà nước phải kéo dài trên một năm nên việc theo dõi, thu nợ có khó khăn nhất định, đặc biệt là đối  với những công nhân, viên chức có thay đổi đơn vị công tác…

Vì vậy, liên Bộ đề nghị các Bộ, các cơ quan và Ủy ban hành chính các cấp chú trọng lãnh đạo chặt chẽ việc bán chịu xe cho công nhân, viên chức, nhằm thực hiện tốt chủ trương của Chính phủ là bán đúng đối tượng, đúng nơi có nhu cầu, nhằm bảo đảm công tác, đảm bảo đoàn kết và nhất thiết không được để hao hụt công qũy.

Ở mỗi ngành, mỗi cấp làm thí điểm (trước một bước) tại một hoặc hai đơn vị để có kinh nghiệm chỉ đạo rộng rãi. Cơ quan tài chính phải hướng dẫn kỹ các đơn vị trong việc giữ sổ sách.

Trong khi thi hành, nếu có khó khăn vướng mắc, đề nghị các Bộ, các cơ quan và Ủy ban hành chính các cấp kịp thời phản ánh về liên Bộ để nghiên cứu giải quyết.

KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ TÀI CHÍNH
THỨ TRƯỞNG
 


 
Trịnh Văn Bính

KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ NỘI THƯƠNG
THỨ TRƯỞNG
 


 
Hoàng Quốc Thịnh

KT. TỔNG GIÁM ĐỐC
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC


 

 
Trần Dương

 

[1]Mẫu số 3 – XĐ không đăng công báo
[2]Các mẫu số 1 – XĐ và số 2 – XĐ không công báo.
[3]Các mẫu số 1 – XĐ và số 2 – XĐ không công báo.
[4]Các mẫu số 5-XĐ và số 4 – XĐ không đăng công báo
[5]Các mẫu số 5-XĐ và số 4 – XĐ không đăng công báo

 

Văn bản này chưa cập nhật nội dung Tiếng Anh

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Thông tư liên bộ 21-TT/LB năm 1966 hướng dẫn Chỉ thị 153-TTg/TN về việc cho cán bộ, công nhân, viên chức vay tiền mua xe đạp và xe mô tô (hoặc xe máy) do Bộ Tài chính - Bộ Nội thương - Ngân hàng Nhà nước ban hành

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


4.081

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT có liên kết cung cấp dịch vụ tại các Báo điện tử sau:

TVPL:
DMCA.com Protection Status