Từ khoá: Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản...

Các tuyên bố và các quyết định của các bộ trưởng

Số hiệu: Khôngsố3 Loại văn bản: Điều ước quốc tế
Nơi ban hành: *** Người ký: ***
Ngày ban hành: 22/02/1994 Ngày hiệu lực:
Ngày công báo: Đang cập nhật Số công báo: Đang cập nhật
Tình trạng: Đã biết

CÁC TUYÊN BỐ VÀ CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA CÁC BỘ TRƯỞNG

QUYẾT ĐỊNH

VỀ CÁC BIỆN PHÁP ƯU ĐÃI CHO CÁC NƯỚC CHẬM PHÁT TRIỂN NHẤT

Các Bộ trưởng,

Thừa nhận hoàn cảnh khó khăn của các nước chậm phát triển nhất và sự cần thiết đảm bảo việc tham gia có hiệu quả của họ vào hệ thống thương mại thế giới, và thực hiện tiếp các biện pháp nhằm cải thiện các cơ hội thương mại của họ;

Thừa nhận những nhu cầu cụ thể của các nước kém phát triển nhất trong lĩnh vực tiếp cận thị trường khi việc tiếp cận thị trường một cách ưu đãi vẫn còn là cách cần thiết để cải thiện các cơ hội thương mại của họ.

Khẳng định lại những cam kết của mình thực hiện đầy đủ các điều khoản liên quan đến các nước chậm phát triển nhất được đề cập trong đoạn 2(d), 6, 8 của quyết định ngày 28.11.79 về Sự Đãi ngộ Khác biệt và Thuận lợi hơn, tương hỗ và Sự Tham gia Đầy đủ hơn của các Nước Đang Phát triển;

Chú trọng đến cam kết của các bên tham gia như được nêu trong Mục B (vii) Phần I của Tuyên bố Punta del Este của các Bộ trưởng;

1. Quyết định rằng, nếu như chưa có quy định trong những văn kiện đã được đàm phán trong tiến trình của Vòng Uruguay, cho dù họ đã chấp thuận những văn kiện này, các nước chậm phát triển nhất, và chừng nào mà họ vẫn còn thuộc nhóm những nước chậm phát triển, trong khi tuân thủ các qui tắc chung trong các văn kiện đã nói ở trên, sẽ chỉ bị yêu cầu thực hiện các cam kết và nhượng bộ trong phạm vi phù hợp với sự phát triển của từng nước, với các nhu cầu thương mại và tài chính, hoặc năng lực thể chế và quản lý hành chính của họ. Các nước chậm phát triển nhất sẽ được gia hạn thêm một năm từ ngày 15/4/1994 để đệ trình các danh mục của họ theo yêu cầu ở Điều XI của Hiệp định Thành lập WTO.

2. Thoả thuận rằng:

(i) Sẽ đảm bảo khẩn trương thực hiện tất cả các biện pháp khác biệt và đặc biệt ưu đãi dành cho các nước chậm phát triển nhất, gồm cả các biện pháp được thoả thuận Vòng Uruguay, thông qua, trong nhiều biện pháp khác, việc rà soát thường xuyên.

(ii) Trong phạm vi có thể, các nhượng bộ MFN về các biện pháp thuế quan và phi thuế quan đã thoả thuận trong vòng đàm phán Uruguay đối với các sản phẩm được các nước chậm phát triển quan tâm xuất khẩu nhất có thể được thực hiện một cách chủ động, tiến hành trước hạn và không đợi đến giai đoạn. Sẽ cân nhắc nhằm cải thiện hơn nữa hệ thống ưu đãi phổ cập và những chương trình ưu đãi khác đối với các sản phẩm xuất khẩu được các nước chậm phát triển nhất đặc biệt quan tâm.

(iii) Các quy tắc được quy định trong các hiệp định và văn kiện và điều khoản chuyển tiếp trong Vòng Uruguay sẽ được áp dụng một cách có tính hậu thuẫn và linh hoạt với các nước chậm phát triển nhất. Với ý định đó, cần xem xét một cách cảm thông đối với các mối quan tâm đặc thù và có động cơ được các nước chậm phát triển nhất nêu lên trong các Uỷ ban và Hội đồng thích hợp.

(iv) Trong việc áp dụng các biện pháp giảm nhẹ gánh nặng nhập khẩu và các biện pháp khác đã được đề cập đến trong đoạn 3(c) của Điều XXXVII của GATT 1947 và điều khoản tương ứng của GATT 1994, cần cân nhắc đặc biệt đến các lợi ích xuất khẩu của các nước chậm phát triển nhất.

(v) Các nước chậm phát triển sẽ được hưởng sự trợ giúp kỹ thuật nhiều hơn nữa trong việc phát triển, tăng cường và đa dạng hóa sản xuất và cơ sở xuất khẩu, kể cả các cơ sở xuất khẩu dịch vụ, cũng như trong xúc tiến thương mại, để họ có thể tối đa hóa các lợi ích từ việc tự do tiếp cận các thị trường.

3. Thoả thuận duy trì việc rà soát các nhu cầu riêng của các nước chậm phát triển nhất và tiếp tục tìm cách áp dụng các biện pháp tích cực để tạo thuận lợi cho việc phát triển các cơ hội thương mại ưu đãi cho các nước đó.

TUYÊN BỐ

VỀ SỰ ĐÓNG GÓP CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI VÀO VIỆC ĐẠT ĐƯỢC SỰ NHẤT QUÁN HƠN TRONG HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH KINH TẾ TOÀN CẦU

1. Các Bộ trưởng thừa nhận rằng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đã dẫn tới sự tương tác ngày càng tăng giữa các chính sách kinh tế riêng của mỗi nước, kể cả sự tương tác giữa các khía cạnh về cấu trúc, kinh tế vĩ mô, thương mại, tài chính và khía cạnh phát triển của việc hoạch định chính sách kinh tế. Nhiệm vụ trong việc đạt được sự hài hoà giữa các chính sách này trước tiên thuộc về các chính phủ ở tầm quốc gia, nhưng sự nhất quán trên phương diện quốc tế là yếu tố quan trọng và có giá trị làm tăng hiệu quả của những chính sách này ở tầm quốc gia. Những Hiệp định đạt được tại Vòng Uruguay cho thấy rằng tất cả các chính phủ tham gia thừa nhận sự đóng góp của các chính sách thương mại thông thóang với sự tăng trưởng và phát triển lành mạnh nền kinh tế của chính mình và nền kinh tế thế giới nói chung.

2. Sự hợp tác thành công trong lĩnh vực chính sách kinh tế sẽ đóng góp vào sự tiến bộ của những lĩnh vực khác. Sự ổn định hơn của tỉ giá hối đoái, dựa trên các điều kiện kinh tế và tài chính có trật tự hơn, sẽ góp phần vào việc mở rộng thương mại, tăng trưởng và phát triển bền vững, và điều chỉnh sự mất cân bằng đối ngoại. Cũng còn có nhu cầu về đầu tư tài chính có ưu đãi và không ưu đãi, thích hợp và đúng lúc và với nguồn đầu tư thực tế cho các nước đang phát triển và nhu cầu tiếp tục cố gắng để giải quyết vấn đề nợ, để góp phần đảm bảo tăng trưởng và phát triển kinh tế. Tự do hóa thương mại tạo nên nhân tố ngày càng quan trọng trong sự thành công của những chương trình điều chỉnh đang được nhiều nước thực hiện, thường làm phát sinh chi phí xã hội chuyển đổi lớn. Ngoài ra, các Bộ trưởng ghi nhận vai trò của Ngân hàng Thế giới và Quĩ tiền tệ quốc tế trong việc hỗ trợ sự điều chỉnh hướng tới tự do hóa thương mại, bao gồm cả việc hỗ trợ các nước đang phát triển thuần nhập khẩu lương thực đang phải đối mặt với các chi phí ngắn hạn phát sinh từ các cải cách thương mại trong nông nghiệp.

3. Kết quả tích cực của Vòng đàm phán Uruguay là đóng góp quan trọng cho sự nhất quán và hoàn thiện hơn nữa các chính sách kinh tế quốc tế. Các kết quả của Vòng Uruguay đảm bảo mở rộng việc tiếp cận thị trường có lợi cho tất cả các nước, cũng như đảm bảo có một khung khổ vững mạnh hơn của các nguyên tắc thương mại đa biên. Các kết quả đó cũng đảm bảo rằng chính sách thương mại sẽ được tiến hành một cách minh bạch hơn và cùng với nhận thức rõ hơn các lợi ích của một môi trường thương mại mở với năng lực cạnh tranh quốc nội. Hệ thống thương mại đa biên vững mạnh hơn xuất hiện từ Vòng Uruguay có khả năng tạo ra một diễn đàn tốt hơn cho tiến trình tự do hóa, góp phần giám sát có hiệu quả hơn, và đảm bảo sự tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc và các qui tắc đa biên đã được thoả thuận. Những cải thiện này có nghĩa là trong tương lai chính sách thương mại có thể đóng một vai trò quan trọng hơn nữa trong việc đảm bảo sự nhất quán của việc hoạch định chính sách kinh tế toàn cầu.

4. Tuy nhiên, các Bộ trưởng thừa nhận rằng những khó khăn có nguồn gốc nằm ngoài lĩnh vực thương mại không thể giải quyết được thông qua các biện pháp được thực hiện trong lĩnh vực thương mại mà thôi. Điều này làm giảm tầm quan trọng của các nỗ lực nhằm cải thiện các yếu tố khác của việc hoạch định chính sách kinh tế toàn cầu để bổ xung cho việc thực hiện hữu hiệu những kết quả đã đạt được tại Vòng đàm phán Uruguay.

5. Mối liên hệ giữa các khía cạch khác nhau của chính sách kinh tế đòi hỏi các thiết chế quốc tế có trách nhiệm trong mỗi lĩnh vực cần tuân theo các chính sách nhất quán và tương hỗ. Do đó, Tổ chức Thương mại Thế giới nên theo đuổi và phát triển sự hợp tác với các tổ chức quốc tế chịu trách nhiệm về các vấn đề tài chính và tiền tệ, trong khi phải tôn trọng thẩm quyền, những yêu cầu về giữ bí mật và quyền tự chủ cần thiết trong thủ tục ban hành quyết định của mỗi tổ chức, và tránh áp đặt với các chính phủ các điều kiện chéo và điều kiện bổ xung. Các Bộ trưởng mời Tổng Giám đốc của Tổ chức Thương mại Thế giới cùng với Giám đốc Điều hành của Quĩ tiền tệ quốc tế và Chủ tịch Ngân hàng Thế giới, rà soát về trách nhiệm của Tổ chức Thương mại Thế giới đối với sự hợp tác với các thiết chế thuộc hệ thống Bretton Wood, cũng như hình thức hợp tác cần tiến hành đó, nhằm mục đích đạt được sự nhất quán hơn nữa trong hoạch định chính sách kinh tế toàn cầu.

QUYẾT ĐỊNH

VỀ CÁC THỦ TỤC THÔNG BÁO

Các Bộ trưởng,

 Quyết định khuyến nghị Hội nghị các Bộ trưởng thông qua các với quyết định về việc bổ xung và rà soát lại các thủ tục thông báo được trình bày dưới đây:

Các Thành viên,

 Mong muốn cải tiến hoạt động tác nghiệp trong thủ tục thông báo theo Hiệp định Thành lập WTO (dưới đây gọi là Hiệp định WTO), và bằng cách đó góp phần làm minh bạch các chính sách thương mại của các Thành viên và giám sát có hiệu qủa các thoả thuận được lập ra nhằm mục đích đó;

 Khẳng định lại các nghĩa vụ theo Hiệp định WTO phải công bố và thông báo, kể cả những nghĩa vụ cam kết theo các điều kiện của nghị định thư gia nhập cụ thể, miễn trừ, và các hiệp định khác mà các Thành viên đã tham gia.

Thoả thuận như sau:

I. Nghĩa vụ chung về thông báo

Các Thành viên khẳng định cam kết của họ đối với các nghĩa vụ theo các Hiệp định Thương mại Đa biên và, nếu có thể áp dụng được thì còn theo các Hiệp định Thương mại Nhiều bên, liên quan đến việc công bố và thông báo.

Các Thành viên nhận thức được các cam kết của họ đưa ra trong Thoả thuận về Thông báo, Tham vấn, Giải quyết Tranh chấp và Giám sát được thông qua ngày 28/11/1979 (BISD 26S/210). Liên quan đến cam kết của họ tại Thoả thận này về thông báo, ở mức độ tối đa có thể, các biện pháp thương mại được họ áp dụng có ảnh hưởng tới hoạt động tác nghiệp theo GATT 1994, bản thân sự thông báo này không làm phương hại đến các quan điểm về tính nhất quán của các biện pháp có liên quan hoặc liên quan tới các quyền và nghĩa vụ của họ theo Hiệp định Thương mại Đa biên và, khi có thể áp dụng được, theo các Hiệp định Thương mại Nhiều bên, các Thành viên đồng ý thông qua với tính chất hướng dẫn, khi thích hợp, danh mục các biện pháp đính kèm theo đây. Các Thành viên theo đó nhất trí rằng việc vận dụng hoặc sửa đổi những biện pháp này phải tuân theo các yêu cầu về thông báo của Thỏa thuận năm1979.

II. Trung tâm đăng ký các thông báo

Một trung tâm đăng ký các thông báo sẽ được thành lập bên cạnh Ban Thư ký. Trong khi các Thành viên tiếp tục tuân theo các thủ tục thông báo hiện hành, Ban Thư ký đảm bảo rằng trung tâm đăng ký thụ lý để đưa vào hồ sơ những yếu tố của thông tin được Thành viên hữu quan cung cấp về các biện pháp đã áp dụng như mục đích, phạm vi ảnh hưởng thương mại, và yêu cầu của các Thành viên liên quan mà theo đó biện pháp được thông báo. Trung tâm đăng ký sẽ tổ chức tham chiếu chéo các hồ sơ của mình về các thông báo của Thành viên và nghĩa vụ của họ.

Hàng năm trung tâm đăng ký sẽ thông báo cho mỗi Thành viên về các nghĩa vụ thông báo định kỳ mà Thành viên đó sẽ phải đáp ứng trong cả năm sau.

Trung tâm đăng ký sẽ lưu ý từng cá nhân Thành viên về những yêu cầu thông báo định kỳ mà Thành viên chưa thực hiện đầy đủ.

Thông tin lưu tại Trung tâm đăng ký về từng thông báo sẽ được sẵn sàng cung cấp cho bất kỳ Thành viên nào có yêu cầu và có quyền được nhận những thông báo liên quan.

III. Xem xét lại các thủ tục và nghĩa vụ thông báo

Hội đồng về Thương mại Hàng hóa có trách nhiệm xem xét lại các thủ tục và nghĩa vụ thông báo theo các Hiệp định được ghi trong Phụ lục 1A của Hiệp định WTO. Việc xem xét lại sẽ do một nhóm công tác tiến hành, các quốc gia Thành viên sẽ được mời rộng rãi để tham gia nhóm công tác này. Nhóm này sẽ được thành lập ngay sau ngày Hiệp định WTO có hiệu lực.

 Các chức năng của nhóm làm việc này sẽ là:

- Thực hiện việc xem xét lại tất cả những nghĩa vụ thông báo hiện hành của các Thành viên được thành lập theo các Hiệp định trong Phụ lục J1A của Hiệp định WTO, nhằm mục đích đơn giản hóa, tiêu chuẩn hóa và nhằm kết hợp những nghĩa vụ đó đến mức khả thi tối đa có thể, cũng như nâng cao việc tuân thủ các nghĩa vụ đó, lưu ý đến toàn bộ mục tiêu của việc nâng cao sự minh bạch của các chính sách thương mại của các Thành viên và tính hiệu quả của các thoả thuận giám sát được thành lập nhằm mục đích này, và cũng lưu ý đến nhu cầu có thể của một số Thành viên đang phát triển đối với sự trợ giúp trong việc thực hiện các nghĩa vụ thông báo của họ;

- Đưa ra các khuyến nghị cho Hội đồng Thương mại Hàng hóa không muộn hơn 2 năm sau khi Hiệp định WTO có hiệu lực.

 

PHỤ LỤC

DANH MỤC 1 ĐỊNH HƯỚNG CÁC BIỆN PHÁP CÓ THỂ LÀ ĐỐI TƯỢNG THÔNG BÁO

Thuế quan (kể cả giải thuế và phạm vi các cam kết trần, các điều khoản GSP, các mức thuế đã áp dụng cho các thành viên thuộc các khu thương mại tự do/các liên minh thuế quan, các ưu tiên khác)

Các hạn ngạch thuế quan và các phụ phí

Các hạn chế định lượng, kể cả các hạn chế xuất khẩu tự nguyện và các thoả thuận marketing có trật tự tác động đến nhập khẩu

Các biện pháp phi quan thuế khác như là cấp giấy phép và các yêu cầu pha trộn; các loại thuế khả biến

Định giá hải quan

Quy tắc xuất xứ

Mua sắm chính phủ

Các hàng rào kỹ thuật

Các hành động tự vệ

Các hành động chống bán phá giá

Các hành động đối kháng

Thuế xuất khẩu

Các trợ cấp xuất khẩu, các miễn trừ thuế và ưu đãi tài chính xuất khẩu

Các khu thương mại tự do, kể cả việc sản xuất trong khu ngoại quan

Các hạn chế xuất khẩu, kể cả các hạn chế xuất khẩu tự nguyện và các thoả thuận marketing có trật tự

Sự trợ giúp khác của chính phủ, bao gồm các trợ cấp, miễn thuế

Vai trò của các doanh nghiệp thương mại nhà nước

Kiểm soát ngoại hối liên quan đến xuất khẩu và nhập khẩu

Thương mại đổi hàng được chính phủ uỷ quyền

Bất kỳ biện pháp nào khác được quy định trong các Hiệp định Thương mại Đa biên trong Phụ lục 1A của Hiệp định WTO

 

TUYÊN BỐ

VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỒ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI VÀ QUĨ TIỀN TỆ QUỐC TẾ

Các Bộ trưởng,

 Ghi nhận mối quan hệ gắn bó giữa các bên ký kết trong GATT 1947 và Quĩ Tiền tệ Quốc tế, và các điều khoản của GATT 1947 điều chỉnh quan hệ đó, đặc biệt là Điều 15 GATT 1947;

 Thừa nhận những mong muốn của các thành viên đặt mối quan hệ của Tổ chức Thương mại Thế giới với Quĩ Tiền Tệ Quốc tế về những lĩnh vực thuộc sự điều chỉnh của các Hiệp định Thương mại Đa biên trong Phụ lục 1A của Hiệp định WTO, trên cơ sở các điều khoản điều chỉnh mối quan hệ của các bên ký kết GATT 1947 và Quĩ Tiền tệ Quốc tế;

 Bằng tuyên bố này khẳng định lại rằng, trừ khi có qui định khác trong Văn kiện Cuối cùng, mối quan hệ của WTO với Quĩ Tiền Tệ Quốc tế, liên quan đến các lĩnh vực được nêu trong các Hiệp định Thương mại đa biên trong Phụ lục 1A của Hiệp định WTO, sẽ dựa trên những điều khoản điều chỉnh mối quan hệ của Các Bên Ký Kết GATT 1947 với Quĩ Tiền tệ Quốc tế;

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ CÁC BIỆN PHÁP LIÊN QUAN TỚI CÁC ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CÓ THỂ CỦA CHƯƠNG TRÌNH CẢI CÁCH CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN THUẦN NHẬP KHẨU LƯƠNG THỰC VÀ CÁC NƯỚC CHẬM PHÁT TRIỂN

1. Các Bộ trưởng thừa nhận rằng việc thực hiện từng bước toàn bộ các kết quả Vòng Uruguay sẽ làm gia tăng các cơ hội cho phát triển thương mại và tăng trưởng kinh tế đem lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia.

2. Các Bộ trưởng thừa nhận rằng trong suốt chương trình cải cách dẫn đến tự do hóa hơn nữa thương mại trong nông nghiệp các nước chậm phát triển nhất và các nước nhập khẩu lương thực toàn bộ có thể bị những ảnh hưởng tiêu cực liên quan đến việc cung cấp đầy đủ sẵn có các loại thực phẩm cơ bản từ nguồn cung cấp bên ngoài dựa trên các điều khoản và điều kiện hợp lý, kể cả những khó khăn ngắn hạn trong tài trợ cho nhập khẩu thương mại các thực phẩm cơ bản ở mức vẫn thường nhập khẩu.

3. Các Bộ trưởng theo đó thoả thuận thành lập các cơ chế thích hợp để đảm bảo rằng việc thực hiện các kết quả của Vòng Uruguay về thương mại trong nông nghiệp không gây ảnh hưởng bất lợi tới mức viện trợ lương thực vẫn có ở mức đủ để tiếp tục hỗ trợ đáp ứng nhu cầu lương thực của các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước chậm phát triển và các nước đang phát triển thuần nhập khẩu lương thực. Nhằm mục đích này các Bộ trưởng thoả thuận:

 (i) xem xét lại mức độ viện trợ lương thực được Uỷ ban Viện trợ Lương thực quy định định kỳ theo Công ước Viện trợ Lương thực năm 1986 và tiến hành đàm phán trong một diễn đàn thích hợp cho việc xây dựng mức cam kết viện trợ lương thực đủ để thoả mãn những nhu cầu chính đáng của các nước đang phát triển trong suốt chương trình cải cách;

 (ii) thông qua văn bản hướng dẫn để đảm bảo một tỷ trọng ngày càng tăng những thực phẩm cơ bản được cung cấp cho các nước chậm phát triển và các nước thuần nhập khẩu lương thực dưới những hình thức viện trợ đầy đủ và/hoặc với những điều kiện ưu đãi thích hợp phù hợp với Điều 4 của Công ước Viện trợ Lương thực năm 1986;

 (iii) trong bối cảnh của các chương trình viện trợ của mình xem xét kỹ các yêu cầu cung cấp trợ giúp về tài chính và kỹ thuật cho các nước chậm phát triển và các nước đang phát triển thuần nhập khẩu lương thực để nâng cao năng suất nông sản và cải thiện cơ sở hạ tầng.

4. Các Bộ trưởng còn thoả thuận đảm bảo rằng bất kỳ thoả thuận nào liên quan tới tín dụng xuất khẩu nông nghiệp đều phải có điều khoản phù hợp về sự đối xử khác biệt ưu đãi cho các nước chậm phát triển và các nước đang phát triển nhập khẩu lương thực thuần.

5. Các Bộ trưởng thừa nhận rằng do kết quả của Vòng Uruguay một số nước đang phát triển có thể gặp phải những khó khăn tạm thời để tài trợ cho nhập khẩu thương mại bình thường và các nước đó có thể có quyền dựa vào các nguồn của các tổ chức tài chính quốc tế theo các phương tiện hiện hành, hoặc các phương tiện như vậy có thể được thiết lập, trong nội dung của những chương trình điều chỉnh, để giải quyết những khó khăn tài chính đó. Liên quan đến vấn đề này các Bộ trưởng lưu ý đoạn 37 của báo cáo của Tổng Thư ký về Các bên tham gia ký kết GATT 1947 về cuộc tham vấn của ông với Giám Đốc Điều hành Quĩ tiền tệ quốc tế và Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (MTN.GNG/NG14/W/35).

6. Các điều khoản của Quyết định này sẽ là đối tượng của việc rà soát thường xuyên của Hội nghị Bộ trưởng, và theo quyết định này Uỷ Ban về Nông nghiệp sẽ thực hiện việc theo dõi, triển khai cho phù hợp./.

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ THÔNG BÁO NHẤT THỂ HÓA BƯỚC MỘT THEO ĐIỀU 2.6 CỦA HIỆP ĐỊNH VỀ HÀNG DỆT VÀ MAY MẶC

Các Bộ trưởng,

Thoả thuận rằng các bên tham gia còn duy trì những hạn chế nằm trong đoạn 1 Điều 2 của Hiệp định về Hàng dệt và May mặc phải thông báo đầy đủ các chi tiết những hành động được thực hiện theo đúng đoạn 6 Điều 2 của Hiệp định đó cho Ban Thư ký GATT chậm nhất là ngày 1/10/1994. Ban Thư ký GATT sẽ nhanh chóng chuyển những thông báo này đến các thành viên khác. Những thông báo này phải được cung cấp cho Cơ quan Giám sát Hàng dệt, khi cơ quan này được thành lập, phù hợp với mục đích của đoạn 21 Điều 2 của Hiệp định về Hàng dệt và May mặc.

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ BẢN THỎA THUẬN ĐƯỢC DỰ KIẾN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN VÀ TIÊU CHUẨN WTO-ISO

Các Bộ trưởng,

 Quyết định khuyến nghị Ban Thư ký Tổ chức Thương mại Thế giới sớm hoàn thành bản Thoả thuận với Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa (“ISO”) để thành lập một hệ thống thông tin, theo đó:

1. Các thành viên của ISONET sẽ truyền tới Trung tâm Thông tin ISO/IEC ở Geneva các thông báo đã được đề cập trong các đoạn C và J của Bộ Tổng thuật về Thông lệ đối với việc Chuẩn bị, Thông qua và áp dụng các Tiêu chuẩn trong Phụ lục 3 của Hiệp định về Các hàng rào Kỹ thuật đối với Thương mại, với tinh thần đã được trình bày ở đó;

2. Hệ thống phân loại theo (chữ) số sau đây sẽ được sử dụng trong các chương trình làm việc đã được đề cập đến trong đoạn J:

a) một hệ thống phân loại các tiêu chuẩn, sẽ cho phép các cơ quan tiêu chuẩn hóa gắn cho mỗi tiêu chuẩn đã được đề cập trong chương trình làm việc một chỉ dẫn (chữ) số biểu thị chủ đề của vấn đề;

b) một hệ thống mã giai đoạn sẽ cho phép các cơ quan tiêu chuẩn hóa gắn cho mỗi tiêu chuẩn đã được đề cập trong chương trình làm việc một chỉ dẫn (chữ) số biểu thị giai đoạn phát triển của tiêu chuẩn; với mục đích đó, ít nhất 5 giai đoạn phát triển sẽ được phân biệt: (1) giai đoạn quyết định xây dựng một tiêu chuẩn đã được thực hiện, nhưng công việc kỹ thuật chưa được bắt đầu; (2) giai đoạn công việc kỹ thuật đã bắt đầu, nhưng thời gian cho việc đệ trình đối với các lời chú giải chưa được bắt đầu; (3) giai đoạn đệ trình các lời chú giải đã bắt đầu, nhưng chưa hoàn thành; (4) giai đoạn vào lúc thời gian đệ trình các lời chú giải đã hoàn thành, nhưng tiêu chuẩn chưa được thông qua; và (5) giai đoạn tiêu chuẩn đã được thông qua;

c) một hệ thống về đặc định hóa bao gồm tất cả các tiêu chuẩn quốc tế cho phép các cơ quan tiêu chuẩn hóa gắn cho mỗi tiêu chuẩn đã được đề cập trong chương trình làm việc một chỉ dẫn (chữ) số biểu thị các/tiêu chuẩn quốc tế đã sử dụng như một cơ sở;

3. Trung tâm Thông tin ISO/IEC sẽ chuyển ngay cho Ban Thư ký các bản sao của bất kỳ các thông báo nào đã được đề cập trong đoạn C của Bộ Tổng thuật về Thông lệ;

4. Trung tâm Thông tin ISO/IEC sẽ thường xuyên đăng các thông tin đã nhận được trog các thông báo đã được lập cho Trung tâm theo các đoạn C và J của Bộ Tổng thuật về Thông lệ; việc xuất bản này, có thể phải trả một khoản phí hợp lý, sẽ sẵn sàng cho các thành viên của ISONET và thông qua Ban Thư ký để gửi cho các Thành viên của WTO.

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ RÀ SOÁT ĐỐI VỚI VIỆC XUẤT BẢN CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN ISO/IEC

Các Bộ trưởng,

 Quyết định rằng phù hợp với đoạn 1 của Điều 13 của Hiệp định về các Hàng rào Kỹ thuật đối với Thương mại trong Phụ lục 1A của Hiệp định về việc Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới, Uỷ ban về Các Hàng rào Kỹ thuật đối với Thương mại đã được thành lập theo Hiệp định đó, không gây phương hại đến các điều khoản về tham vấn và giải quyết tranh chấp, ít nhất 1 năm 1 lần rà soát việc xuất bản được Trung tâm Thông tin ISO/IEC cung cấp về các thông tin đã nhận được theo Bộ Tổng thuật về Thông lệ đối với việc chuẩn bị, Thông qua và áp dụng các Tiêu chuẩn trong Phụ lục 3 của Hiệp định, với mục đích dành cho các Thành viên cơ hội thảo luận bất kỳ vấn đề nào liên quan đến hoạt động tác nghiệp theo Bộ Tổng thuật đó.

 Để tạo thuận lợi cho việc thảo luận đó, Ban Thư ký sẽ cung cấp cho các Thành viên danh sách các cơ quan tiêu chuẩn hóa đã chấp thuận Bộ Tổng thuật, cũng như danh sách các cơ quan tiêu chuẩn hóa đã chấp nhận hoặc rút bỏ khỏi Bộ Tổng thuật từ cuộc rà soát trước đó.

 Ban Thư ký cũng sẽ nhanh chóng cung cấp cho các Thành viên các bản sao của các thông báo nhận được từ Trung tâm Thông tin ISO/IEC.

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ BIỆN PHÁP CHỐNG VÒNG TRÁNH

Các Bộ trưởng,

 Lưu ý rằng trong khi vấn đề vòng tránh các biện pháp thuế chống phá bán giá đã trở thành một bộ phận của các cuộc đàm phán trước Hiệp định về việc áp dụng Điều VI của GATT 1994, các cuộc đàm phán đã không thể nhất trí về một văn bản cụ thể,

 Lưu tâm về sự trông đợi áp dụng được các quy tắc thống nhất trong lĩnh vực này càng sớm càng tốt,

 Quyết định chuyển vấn đề này cho Uỷ ban về Các Hoạt động Chống bán Phá giá được thành lập theo Hiệp định đó để giải quyết.

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ RÀ SOÁT ĐIỀU 17.6 CỦA HIỆP ĐỊNH VỀ THỰC HIỆN ĐIỀU VI CỦA GATT 1994

Các Bộ trưởng,

 Quyết định như sau:

 Tiêu chuẩn đối với việc rà soát tại đoạn 6 của Điều 17 của Hiệp định về Thực hiện Điều VI của GATT 1994 sẽ được xem xét lại sau một giai đoạn 3 năm với mục đích cân nhắc câu hỏi liệu có khả năng áp dụng chung hay không.

 

TUYÊN BỐ

VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THEO HIỆP ĐỊNH VỀ THỰC HIỆN ĐIỀU VI CỦA GATT 1994 HOẶC PHẦN V CỦA HIỆP ĐỊNH VỀ TRỢ CẤP VÀ CÁC BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG

Các Bộ trưởng,

 Thừa nhận rằng liên quan tới giải quyết tranh chấp theo Hiệp định về Thực hiện Điều VI của GATT 1994 hoặc Phần V của Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp Đối kháng, phải cần có một giải pháp nhất quán cho các tranh chấp phát sinh từ các biện pháp thuế đối kháng và chống bán phá giá.

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ TRƯỜNG HỢP CƠ QUAN HẢI QUAN CÓ LÝ DO NGHI NGỜ SỰ TRUNG THỰC HOẶC CHÍNH XÁC CỦA GIÁ TRỊ KHAI BÁO HẢI QUAN

Các Bộ trưởng,

 Đề nghị Uỷ ban về Định giá Hải quan được thành lập theo Hiệp định về Thực hiện Điều VII của GATT 1994 ra quyết định sau đây:

Uỷ ban về Định giá Hải quan,

 Khẳng định lại rằng giá trị giao dịch là cơ sở chủ yếu của việc định giá theo Hiệp định về Thực hiện Điều VII của GATT 1994 (dưới đây gọi là “Hiệp định”);

 Thừa nhận rằng cơ quan hải quan có thể phải xử lý các trường hợp mà cơ quan hải quan có lý do để nghi ngờ sự trung thực hoặc chính xác của các chi tiết hoặc của các chứng từ do các thương gia đưa ra làm bằng chứng cho một giá trị đã khai báo hải quan;

 Nhấn mạnh rằng khi làm như vậy cơ quan hải quan sẽ không gây phương hại tới các lợi ích thương mại chính đáng của các thương gia;

 Cân nhắc đến Điều 17 của Hiệp định, đoạn 6 của Phụlục III của Hiệp định, và các quyết định liên quan của Uỷ ban Kỹ thuật về Định giá Hải quan;

 Quyết định như sau:

1. Khi một tờ khai hải quan đã được đưa trình và khi cơ quan hải quan có các lý do để nghi ngờ sự trung thực hoặc chính xác của các chi tiết hoặc của các chứng từ được xuất trình để chứng minh cho tờ khai này, cơ quan hải quan có thể yêu cầu nhà xuất khẩu đưa ra lời giải thích bổ xung, kể cả các chứng từ hoặc chứng cứ khác, về việc giá trị kê khai bao gồm toàn bộ số tiền phải trả ngay hoặc có thể phải trả cho hàng hóa nhập khẩu, đã điều chỉnh phù hợp với các qui định của Điều 8. Nếu, sau khi nhận được các thông tin bổ xung, hoặc không có trả lời, cơ quan hải quan vẫn có các nghi ngờ hợp lý về sự trung thực hoặc chính xác của giá trị khai báo, họ có thể, ghi nhớ các điều khoản của Điều 11, cho rằng giá trị hải quan của hàng nhập khẩu không thể được xác định theo các qui định của Điều 1. Trước khi đi đến quyết định cuối cùng, cơ quan hải quan sẽ thông báo cho nhà nhập khẩu, bằng văn bản nếu được yêu cầu, các căn cứ để nghi ngờ về sự trung thực hoặc chính xác của các chi tiết hay các chứng từ được cung cấp và nhà nhập khẩu sẽ có các cơ hội hợp lý để trả lời. Khi quyết định cuối cùng được đưa ra, cơ quan hải quan sẽ thông báo cho nhà nhập khẩu bằng văn bản quyết định của họ và các căn cứ để đưa ra quyết định đó.

2. Điều đó là hoàn toàn phù hợp đối với việc áp dụng Hiệp định để một Thành viên này giúp một Thành viên khác trên cơ sở những điều kiện đã được cùng thoả thuận.

QUYỀT ĐỊNH

VỀ CÁC VĂN BẢN LIÊN QUAN TỚI CÁC TRỊ GIÁ TỐI THIỂU VÀ VIỆC NHẬP KHẨU CỦA CÁC ĐẠI LÝ DUY NHẤT, CÁC NHÀ PHÂN PHỐI DUY NHẤT VÀ CÁC NHÀ NHẬN NHƯỢNG QUYỀN TIÊU THỤ DUY NHẤT

Các Bộ trưởng,

 Quyết định chuyển các văn bản sau đây cho Uỷ ban về trị giá Hải quan được thành lập theo Hiệp định về Thực hiện Điều VII của GATT 1994, để thông qua.

Khi một nước đang phát triển đưa ra một bảo lưu duy trì các trị giá tối thiểu/chính thức đặt ra theo các điều khoản của đoạn 2 Phụ lục III và chỉ ra lý do chính đáng, thì Uỷ ban sẽ dành sự cân nhắc một cách cảm thông cho yêu cầu về các bảo lưu đó.

Đối với các bảo lưu được chấp thuận thì các điều khoản và các điều kiện được đề cập trong đoạn 2 Phụ lục III sẽ cân nhắc đầy đủ tới nhu cầu phát triển, các nhu cầu thương mại và tài chính của nước đang phát triển có liên quan.

1. Một số nước đang phát triển lo ngại rằng có thể tồn tại một số vấn đề trong định giá hàng hóa nhập khẩu của các đại lý duy nhất, các nhà phân phối duy nhất và nhà nhận nhượng quyền tiêu thụ duy nhất. Theo đoạn 1 Điều 20, các Thành viên đang phát triển có một giai đoạn hoãn thi hành lên tới 5 năm trước khi áp dụng Hiệp định. Trong phạm vi đó, các Thành viên đang phát triển khi áp dụng điều khoản này cho chính mình có thể sử dụng giai đoạn này để tiến hành các nghiên cứu phù hợp và thực hiện các hành động khác cần thiết để tạo thuận lợi cho việc áp dụng.

2. Khi xem xét điều này, Uỷ ban khuyến nghị Hội đồng Hợp tác Hải quan hỗ trợ các Thành viên đang phát triển, phù hợp với các điều khoản của Phụ lục II, lên kế hoạch và tiến hành các nghiên cứu trong các lĩnh vực đã được xác định là có quan ngai trong tương lai, kể cả những điều liên quan đến việc nhập khẩu của các đại lý duy nhất, các nhà phân phối duy nhất và các nhà nhận nhượng quyền tiêu thụ duy nhất.

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ CƠ CHẾ CỦA HIỆP ĐỊNH CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ

Các Bộ trưởng,

 Quyết định khuyến nghị rằng tại phiên họp đầu tiên của mình Hội đồng về Thương mại Dịch vụ thông qua quyết định về các cơ quan trực thuộc được trình bày dưới đây.

 Hội đồng về Thương mại Dịch vụ,

 Hành động theo Điều XXIV với mục đích tạo thuận lợi cho hoạt động và đẩy mạnh các mục tiêu của Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ;

 Quyết định như sau:

1. Mọi cơ quan trực thuộc do Hội đồng có thể thành lập sẽ báo cáo Hội đồng hàng năm hoặc thường xuyên hơn khi cần thiết. Mỗi cơ quan như vậy sẽ thiết lập qui chế của mình và có thể lập các cơ quan trực thuộc của mình khi cần thiết.

2. Bất kỳ Uỷ ban chuyên trách theo lĩnh vực nào sẽ thực hiện các nhiệm vụ được Hội đồng giao phó, và tạo cho các Thành viên cơ hội tham vấn về mọi vấn đề về thương mại dịch vụ trong lĩnh vực có liên quan và về việc thực hiện Phụ lục theo lĩnh vực mà Uỷ ban có liên quan. Những nhiệm vụ đó bao gồm:

a) Rà soát và giám sát liên tục việc áp dụng Hiệp định đối với từng lĩnh vực có liên quan;

b) Đưa ra các đề xuất và khuyến nghị cho Hội đồng xem xét về mọi vấn đề liên quan đến thương mại trong lĩnh vực có liên quan;

c) Trường hợp có Phụ lục liên quan đến một lĩnh vực , xem xét các đề xuất để sửa đổi Phụ lục đó và đưa ra các các khuyến nghị cần thiết cho Hội đồng;

d) Tổ chức một diễn đàn để thảo luận về kỹ thuật, tiến hành nghiên cứu về các biện pháp của các Thành viên và tiến hành kiểm tra mọi vấn đề kỹ thuật khác có ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ trong lĩnh vực có liên quan;

e) Cung cấp Trợ giúp kỹ thuật cho các Thành viên đang phát triển và các nước đang phát triển đang đàm phán gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới đối với việc áp dụng các nghĩa vụ hay các vấn đề khác có ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ trong lĩnh vực có liên quan;

f) Hợp tác với mọi cơ quan trực thuộc khác được thành lập theo Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ hoặc mọi tổ chức quốc tế hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực nào có liên quan.

3. Theo quyết định này Uỷ ban về Thương mại Dịch vụ tài chính được thành lập và sẽ có các nhiệm vụ như được liệt kê tại đoạn 2.

 

 QUYẾT ĐỊNH

VỀ MỘT SỐ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐỐI VỚI HIỆP ĐỊNH CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ

Các Bộ trưởng,

 Quyết định khuyến nghị rằng Hội đồng về Thương mại Dịch vụ tại phiên họp đầu tiên của mình thông qua quyết định được trình bày dưới đây

Hội đồng về Thương mại Dịch vụ:

 Xét tính chất đặc thù của các nghĩa vụ và cam kết cụ thể của Hiệp định, và Thương mại Dịch vụ, đối với giải quyết tranh chấp theo các Điều XXII và XXIII,

 Quyết định như sau:

1. Bảng danh sách các trọng tài viên sẽ được thiết lập để trợ giúp việc lựa chọn các trọng tài.

2.Với mục tiêu này các Thành viên có thể đề cử tên các cá nhân đáp ứng các chuẩn mực nêu tại đoạn 3 để đưa vào danh sách và sẽ cung cấp sơ yếu lý lịch về năng lực nghề nghiệp của họ kể cả việc, nếu có thể áp dụng được, chỉ rõ chuyên môn trong lĩnh vực cụ thể .

3. Các Ban Hội thẩm sẽ bao gồm các cá nhân có năng lực chuyên môn cao thuộc các cơ quan chính phủ hoặc phi chính phủ mà có kinh nghiệm về các vấn đề liên quan đến Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ hoặc thương mại dịch vụ, kể cả các vấn đề qui định liên quan. Các trọng tài viên sẽ hoạt động với tư cách cá nhân và không như là các đại diện của bất cứ chính phủ hay tổ chức nào.

4. Các Ban Hội thẩm để giải quyết những tranh chấp về các vấn đề theo lĩnh vực sẽ có chuyên môn cao thích đáng đối với những lĩnh vực dịch vụ cụ thể mà các tranh chấp có liên quan.

5. Ban Thư ký sẽ lưu giữ bản Bản danh sách và sẽ xây dựng các qui chế để Ban Thư ký quản lý sau khi tham vấn Chủ tịch Hội đồng.

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ MÔI TRƯỜNG

Các Bộ trưởng,

 Quyết định khuyến nghị rằng tại phiên họp đầu tiên của mình Hội đồng về Thương mại Dịch vụ thông qua quyết định được trình bày dưới đây

Hội đồng về Thương mại Dịch vụ:

 Thừa nhận rằng các biện pháp cần thiết để bảo vệ môi trường có thể trái với các qui định của Hiệp định; và

 Ghi nhận rằng vì các biện pháp cần thiết để bảo vệ môi trường chủ yếu có mục tiêu bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người, động vật hay thực vật; hiện còn chưa rõ ràng về sự cần thiết có các qui định hơn nữa về các nội dung trong đoạn (b), điều XIV:

 Quyết định như sau:

1. Nhằm xác định một sửa đổi bất kỳ của Điều XIV của Hiệp định có cần thiết phải xem xét đến các biện pháp như vậy hay không, yêu cầu Uỷ ban về Thương mại và Môi trường thẩm định và báo cáo, với các đề xuất nếu có, về mối quan hệ giữa thương mại và môi trường bao gồm cả các vấn đề về phát triển bền vững. Uỷ ban cũng sẽ thẩm định tính đồng nhất của các hiệp định liên chính phủ về môi trường và mối quan hệ của chúng đối với Hiệp định.

2. Uỷ ban sẽ thông báo kết quả các công việc của mình cho cuộc họp hàng năm đầu tiên của Hội nghị Bộ trưởng sau khi Hiệp định Thành lập WTO có hiệu lực.

QUYẾT ĐỊNH

VỀ ĐÀM PHÁN VỀ ĐI LẠI CỦA TỰ NHIÊN NHÂN

Các Bộ trưởng,

 Ghi nhận các cam kết từ Vòng Đàm phán Uruguay về sự đi lại của thể nhân nhằm mục tiêu cung cấp dịch vụ;

 Lưu tâm đến các mục tiêu của Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ kể cả việc tăng cường sự tham gia của các nước đang phát triển về thương mại dịch vụ và mở rộng xuất khẩu dịch vụ của các nước đó ;

 Công nhận tầm quan trọng trong việc đạt được các cam kết ở mức độ cao hơn về sự đi lại của thể nhân, nhằm tạo ra sự cân đối các lợi ích theo Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ.

 Quyết định như sau:

1. Các cuộc đàm phán để thúc đẩy tự do hóa của sự đi lại của các thể nhân vì mục tiêu cung cấp dịch vụ sẽ tiếp tục sau khi kết thúc Vòng Đàm phán Uruguay, với triển vọng đạt được mức độ cam kết cao hơn từ các nước tham gia trong khuôn khổ của Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ.

2. Nhóm đàm phán về sự đi lại của thể nhân được thành lập để tiến hành các đàm phán. Nhóm sẽ xây dựng qui chế của mình và sẽ thông báo định kỳ cho Hội đồng về Thương mại Dịch vụ;

3. Nhóm đàm phán sẽ tiến hành phiên đàm phán đầu tiên không chậm hơn ngày 16/5/1994. Nhóm sẽ kết thúc các đàm phán và lập báo cáo tổng kết không chậm hơn 6 tháng kể từ ngày Hiệp định Thành lập WTO có hiệu lực.

4.Các cam kết thu được từ các đàm phán này sẽ được ghi trong các Bảng cam kết cụ thể của các nước Thành viên.

QUYẾT ĐỊNH

VỀ CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH

Các Bộ trưởng,

 Ghi nhận rằng các cam kết của các nước tham gia đàm phán về các dịch vụ tài chính khi kết thúc vòng Uruguay sẽ có hiệu lực trên cơ sở MFN cùng thời gian như Hiệp định Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (sau đây được gọi là Hiệp định WTO),

 Quyết định như sau:

1. Vào cuối thời hạn kết thúc không chậm hơn 6 tháng sau khi Hiệp định WTO có hiệu lực, không phụ thuộc vào các qui định của điều XXI của Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ, các Thành viên được tự do cải thiện, sửa đổi hay rút bỏ toàn bộ hoặc một phần các cam kết của mình trong lĩnh vực này mà không phải đề xuất bồi thường. Đồng thời, không phụ thuộc vào các qui định của Phụ lục về các ngoại lệ của Điều II, các Thành viên phải kết luận lập trường của mình đối với các ngoại lệ MFN trong lĩnh vực này. Kể từ ngày Hiệp định WTO có hiệu lực cho đến khi kết thúc thời hạn nêu trên, những ngoại lệ liệt kê trong Phụ lục về các ngoại lệ của Điều II đặt điều kiện theo mức độ các cam kết của các nước tham gia khác hoặc theo các ngoại lệ của các nước tham gia sẽ không được áp dụng.

2. Uỷ ban về Thương mại Dịch vụ Tài chính sẽ giám sát tiến trình của mọi đàm phán được tiến hành trong các thời hạn của Quyết định này và sẽ báo cáo cho Hội đồng về Thương mại Dịch vụ không chậm hơn 4 tháng kể từ khi Hiệp định WTO có hiệu lực.

QUYẾT ĐỊNH

VỀ ĐÀM PHÁN DỊCH VỤ VẬN TẢI ĐƯỜNG BIỂN

Các Bộ trưởng,

 Ghi nhận rằng các cam kết của các nước tham gia đưa ra về thương mại dịch vụ đường biển khi kết thúc vòng đàm phán Uruguay sẽ có hiệu lực trên cơ sở MFN cùng thời gian như Hiệp định Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (sau đây gọi là Hiệp định WTO) .

 Quyết định như sau:

1. Đàm phán về lĩnh vực dịch vụ vận tải biển trong khuôn khổ Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ sẽ diễn ra trên cơ sở tự nguyện. Đàm phán sẽ có phạm vi toàn diện, nhằm đạt được các cam kết trong lĩnh vực vận tải biển quốc tế, các dịch vụ hỗ trợ và việc tiếp cận và sử dụng các thiết bị cảng, dẫn tới các việc loại bỏ các hạn chế với một lịch trình thời gian nhất định.

2. Nhóm đàm phán về các dịch vụ vận tải biển (được gọi tắt là Nhóm NGMTS) được thành lập để thực hiện nhiệm vụ này. Nhóm NGMTS phải thông báo định kỳ về tiến trình của những đàm phán này.

3. Đàm phán trong Nhóm NGMTS sẽ để ngỏ cho tất cả các chính phủ và Cộng đồng Châu Âu có tuyên bố ý định tham gia. Đến nay, những nước sau đã tuyên bố ý định tham gia vào các đàm phán.

Achentina, Canada, Công đồng châu Âu và các quốc gia thành viên, Phần lan, Hongkong, Ixơlen, Indonesia, Hàn quốc, Malaysia, Mêhicô, New zealand, Nauy, Philipines, Ba lan, Rumani, Singapo, Thuỵ điển, Thuỵ sỹ, Thái lan, Thổ nhĩ kỳ, Hoa kỳ.

Các thông báo ý định tham gia tiếp theo sẽ được gửi đến Bộ phận Lưu nhận của Hiệp định WTO.

4.Nhóm NGMTS sẽ tiến hành phiên đàm phán đầu tiên của mình không chậm hơn ngày 16/5/1994. Nhóm sẽ kết thúc các cuộc đàm phán này và lập báo cáo tổng kết không chậm hơn tháng 6/1996. Báo cáo tổng kết của Nhóm NGMTS sẽ bao gồm ngày kết quả các đàm phán đó được thực hiện.

 5. Cho đến khi kết thúc các đàm phán, Điều II và Phụ lục các ngoại lệ của Điều II và đoạn 1 và đoạn 2 của Phụ lục về các ngoại lệ của ĐIều II được hoãn áp dụng đối với lĩnh vực này, và không cần liệt kê các ngoại lệ MFN. Khi kết thúc các đàm phán, không phụ thuộc vào các qui định của Điều XXI của Hiệp định, các Thành viên được tự do cải thiện, thay đổi hay rút bỏ bất cứ cam kết nào đã được đưa ra trong lĩnh vực này trong Vòng Uruguay mà không phải đề xuất bù đắp. Đồng thời, không phụ thuộc vào các qui định của Phụ lục về các ngoại lệ của Điều II, các Thành viên sẽ có lập trường cuối cùng của mình liên quan đến các ngoại lệ MFN trong lĩnh vực này. Nếu các đàm phán không thành công, Hội đồng về Thương mại Dịch vụ sẽ quyết định có nên tiếp tục các đàm phán liên quan đến vấn đề này nữa hay không.

6. Mọi cam kết là kết quả đàm phán, kể cả thời điểm chúng có hiệu lực, sẽ được nêu ra trong Bảng các cam kết là Phụ lục của Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ và chịu sự điều chỉnh của mọi qui định của Hiệp định.

7. Ngay khi bắt đầu và tiếp tục cho đến thời điểm thực hiện được xác định tại đoạn 4, vấn đề được thống nhất là các nước tham gia sẽ không áp dụng bất cứ biện pháp nào làm ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ vận tải biển trừ trường hợp đáp lại những biện pháp do các nước khác áp dụng và với mục đích duy trì hay cải thiện mức độ tự do cung cấp dịch vụ vận tải biển, cũng như không áp dụng theo cách thức để cải thiện vị thế về đàm phán của mình.

8. Việc thực hiện đoạn 7 sẽ chịu sự giám sát trong Nhóm NGMTS. Bất cứ nước tham gia nào có thể lưu ý NGMTS về bất cứ hành động hay sự thiếu sót nào mà nước đó tin rằng có liên quan tới việc thực thi đoạn 7. Những thông báo như vậy được xem như là đã gửi cho NGMTS khi Ban Thư ký nhận được.

QUYẾT ĐỊNH

VỀ ĐÀM PHÁN CÁC DỊCH VỤ VIỄN THÔNG CƠ BẢN

Các Bộ trưởng,

 Quyết định như sau:

1.Các cuộc đàm phán sẽ được tiến hành trên cơ sở tự nguyện với mục tiêu từng bước tự do hóa thương mại về các dịch vụ và hệ thống truyền tải viễn thông (sau đây sẽ gọi là "viễn thông cơ bản") trong khuôn khổ Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ.

2.Không ảnh hưởng đến kết quả đem lại, các cuộc đàm phán sẽ có phạm vi toàn diện mà không loại trừ một dịch vụ viễn thông cơ bản nào.

3.Nhóm đàm phán về dịch vụ viễn thông cơ bản (sau đây được gọi là Nhóm NGBT) được thành lập để thực hiện công tác trên. Nhóm NGBT sẽ định kỳ thông báo về tiến bộ đạt được trong đàm phán.

4.Các đàm phán trong Nhóm NGBT sẽ để ngỏ tất cả các chính phủ và Cộng đồng châu Âu tuyên bố ý định tham gia. Đến nay, những nước sau đã tuyên bố ý định tham gia đàm phán.

Úc, Áo, Canada, Cộng đồng Châu Âu và các quốc gia thành viên, Phần lan, Hồng kông, Hungary, Nhật bản, Hàn quốc, Malaysia, Mêhicô, New Zealand, Nauy, Cộng hoà Slovak, Thuỵ điển, Thuỵ sỹ, Thái lan, Thổ nhĩ kỳ, Hoa kỳ.

Các thông báo tiếp theo về ý định tham gia sẽ được gửi cho Bộ phận Lưu nhận Hiệp định WTO.

5.Nhóm NGBT sẽ tiến hành phiên đàm phán đầu tiên của mình không chậm hơn ngày 16/5/1994. Nhóm sẽ kết thúc các đàm phán và lập báo cáo tổng kết không chậm hơn ngày 30/4/1996. Báo cáo tổng kết sẽ bao gồm thời điểm thi hành các kết quả của những đàm phán đó.

6.Mọi cam kết là kết quả của các cuộc đàm phán, kể cả thời điểm có hiệu lực sẽ được phản ánh trong các Bảng cam kết là Phụ lục của Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ và chịu sự điều chỉnh của mọi qui định trong Hiệp định.

7.Ngay khi bắt đầu và tiếp tục cho đến thời điểm thực hiện được xác định tại đoạn 5, thống nhất là các nước tham gia sẽ không áp dụng bất cứ biện pháp nào làm ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ viễn thông cơ bản với mục đích cải thiện vị thế đàm phán của mình. Qui định này được hiểu là sẽ không ngăn cản việc tiến hành các thoả thuận thương mại và thoả thuận cấp chính phủ liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ viễn thông cơ bản.

8.Việc thực hiện đoạn 7 sẽ chịu sự giám sát trong Nhóm NGBT. Mọi nước tham gia nào có thể lưu ý Nhóm NGBT về bất cứ hành động hay sự thiếu sót nào mà nước đó tin rằng có liên quan đến việc thực thi đoạn 7. Những thông báo như vậy được xem như gửi cho Nhóm NGBT khi Ban Thư ký nhận chúng.

QUYẾT ĐỊNH

VỀ DỊCH VỤ NGHỀ NGHIỆP

Các Bộ trưởng,

 Quyết định khuyến nghị rằng tại phiên họp đầu tiên của mình Hội đồng về Thương mại Dịch vụ thông qua quyết định được trình bày dưới đây.

Hội đồng về Thương mại Dịch vụ,

 Công nhận ảnh hưởng của các qui định về các năng lực chuyên môn, tiêu chuẩn kỹ thuật và cấp giấy phép đối với sự mở rộng của dịch vụ nghề nghiệp;

 Mong muốn thiết lập các nguyên tắc đa biên nhằm mục tiêu đảm bảo rằng khi các cam kết cụ thể đã được đưa ra, các qui định đó không cấu thành những cản trở không cần thiết đối với việc cung cấp các dịch vụ nghề nghiệp.

 Quyết định như sau:

1. Chương trình làm việc đã dự kiến trong đoạn 4 của Điều VI về các Qui định trong nước cần phải có hiệu lực ngay. Theo đó, một Nhóm công tác về dịch vụ nghề nghiệp sẽ được thành lập để thẩm định và báo cáo, với các khuyến nghị về các nguyên tắc cần thiết để đảm bảo rằng những biện pháp liên quan đến các yêu cầu và thủ tục về năng lực chuyên môn , các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật và cấp phép trong lĩnh vực dịch vụ nghề nghiệp không cấu thành các cản trở thương mại không cần thiết.

2. Như là một nội dung đang được Ưu tiên , Nhóm công tác sẽ đưa ra các đề xuất để soạn thảo chi tiết các nguyên tắc đa biên trong lĩnh vực kế toán để các cam kết cụ thể có tác dụng thực hành. Khi đưa ra các đề xuất này, Nhóm công tác sẽ tập trung:

a) xây dựng các nguyên tắc đa biên liên quan đến tiếp cận thị trường nhằm đảm bảo rằng các yêu cầu được qui định trong nước được: (i) xây dựng trên các chuẩn mực khách quan và minh bạch, như là năng lực và khả năng cung cấp dịch vụ; (ii) không nặng nề hơn mức cần thiết để đảm bảo chất lượng dịch vụ, do vậy mới thúc đẩy quá trình tự do hóa các dịch vụ kế toán một cách có hiệu quả.

b) sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế, và làm như vậy, sẽ khuyến khích sự hợp tác với các tổ chức quốc tế có liên quan như được qui định tại đoạn 5(b) của Điều VI, như vậy, đoạn 5 điều VII mới có hiệu quả đầy đủ.

c) thúc đẩy việc áp dụng một cách có hiệu quả đoạn 6 của Điều VI của Hiệp định bằng cách xây dựng các hướng dẫn đối với việc công nhận trình độ chuyên môn.

Khi soạn thảo chi tiết những nguyên tắc này, Nhóm công tác sẽ tính đến tầm quan trọng của các cơ quan chính phủ và phi chính phủ điều tiết các dịch vụ nghề nghiệp.

QUYẾT ĐỊNH

VỀ VIỆC ÁP DỤNG VÀ RÀ SOÁT THỎA THUẬN VỀ CÁC QUY TẮC VÀ THỦ TỤC ĐIỀU CHỈNH VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

Các Bộ trưởng,

 Khẳng định rằng Quyết định ngày 22/2/1994 về các quy tắc và thủ tục hiện hành của GATT 1947 trong trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp vẫn duy trì hiệu lực cho đến ngày Hiệp định Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới có hiệu lực,

 Đề nghị các Uỷ ban và Hội đồng có liên quan quyết định duy trì hoạt động của họ nhằm mục đích xử lý bất kỳ tranh chấp nào được yêu cầu tham vấn trước ngày đó;

 Đề nghị Hội nghị Bộ trưởng hoàn thiện việc rà soát đầy đủ các quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp theo WTO trong vòng 4 năm kể từ ngày Hiệp định Thành lập WTO có hiệu lực, và đưa ra một quyết định vào cuộc họp đầu tiên của Hội nghị Bộ trưởng, sau khi hoàn thiện việc rà soát, cho dù quyết định đó là nhằm tiếp tục, sửa đổi hoặc chấm dứt các thủ tục và quy tắc giải quyết tranh chấp đó.

 Danh mục này không thay thế các yêu cầu thông báo trong các Hiệp định Thương mại Đa biên trong Phụ lục 1A của Hiệp định WTO hoặc, trong các trường hợp tương ứng, các Hiệp định Thương mại Nhiều bên trong Phụ lục 4 của Hiệp định WTO

 (Các văn bản này chỉ có giá trị tham khảo. Ngày ban hành trong văn bản này chỉ mang tính tương đối).

Văn bản này chưa cập nhật nội dung Tiếng Anh

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Các tuyên bố và các quyết định của các bộ trưởng

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


3.810

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT có liên kết cung cấp dịch vụ tại các Báo điện tử sau:

TVPL:
DMCA.com Protection Status