Từ khoá: Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản...

Thông tư liên bộ 05-TT/LB năm 1961 về việc bàn giao tài sản và vốn của ngành kinh doanh thuốc nam thuốc bắc cấp I và cấp II thuộc Bộ Nội thương sang Bộ Y tế do Bộ Y tế - Bộ Nội thương ban hành

Số hiệu: 05-TT/LB Loại văn bản: Thông tư liên tịch
Nơi ban hành: Bộ Nội thương, Bộ Y tế Người ký: Nguyễn Văn Đào, Nguyễn Đức Thắng
Ngày ban hành: 06/03/1961 Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: Đã biết Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

BỘ NỘI THƯƠNG-BỘ Y TẾ
******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 05-TT/LB

Hà Nội, ngày 06 tháng 03 năm 1961 

 

THÔNG TƯ LIÊN BỘ

VỀ VIỆC BÀN GIAO TÀI SẢN VÀ VỐN CỦA NGÀNH KINH DOANH THUỐC NAM THUỐC BẮC CẤP I VÀ CẤP II THUỘC BỘ NỘI THƯƠNG SANG BỘ Y TẾ

Căn cứ quyết định số 2965/NC ngày 14-10-1960 của Thủ tướng Chính phủ và tiếp theo Thông tư Liên Bộ y tế - Nội thương số 759 ngày 17-11-1960 về việc bàn giao hệ thống phân thuốc nam, thuốc bắc, cao đơn hoàn tán của Bộ Nội thương sang Bộ  tế, thông tư Liên bộ này hướng dẫn về việc bàn giao tài sản và vốn của ngành kinh doanh thuốc nam, thuốc bắc, cao đơn hoàn tán cấp I và cấp II sang Bộ Y tế như sau:

I. NGUYÊN TẮC CHUNG

1. Bắt đầu từ ngày 1-1-1961 tất cả hệ thống chuyên nghiệp kinh doanh về thuốc nam, thuốc bắc ở tỉnh, thành phố (không kể phần do các Cửa hàng bách hóa và hợp tác xã kiêm doanh, dù là những đơn vị đã hạch tóan kinh tế hoàn toàn hoặc cửa hàng phụ thuộc vào Sở và Ty Thương nghiệp các tỉnh thuộc Bộ Nội thương) đều chuyển tài sản và vốn sang Bộ Y tế quản lý.

2. Trong khi tiến hành bàn giao, những đơn vị nói trên vẫn phải đảm bảo nhiệm vụ kinh doanh và hoạt động bình thường.

3. Về tài sản cố định: Những thứ nào sử dụng được sẽ bàn giao, còn những thứ nào không sử dụng được thì không bàn giao, mà phải báo cáo với Bộ Nội thương để xin thanh toán. Về bàn giao, tài sản và vốn sẽ giảm, về bên nhận, tài sản và vốn sẽ tăng (ghi cả giá nguyên thủy và số tiền đã khấu hao).

- Về vốn khấu hao cơ bản năm 1960, nếu chưa nộp vào ngân sách Nhà nước, phải nộp cho hết không bàn giao, vì đó là các khoản mà Bộ Nội thương phải nộp.

- Về sửa chữa lớn, phải bàn giao số dư còn tích lũy sang Bộ Y tế để về sau tiếp tục sửa chữa.

4. Về hàng hóa thì bàn giao những hàng hóa còn bán được .

- Hàng hóa tốt bàn giao trị giá 100%.

- Phải kiểm kê thực tế và trị giá tồn kho theo chế độ hiện hành.

- Đối với hàng hóa kém phẩm chất, trên sổ sách vẫn phải ghi trị giá 100% như hàng tốt, nhưng phải thành lập Hội đồng xét định phẩm chất gồm:

a) Ở cấp I: đại diện 2 Bộ Y tế và Nội thương.

b) Ở cấp II: đại diện Ty, Sở Thương nghiệp, Ty, Sở y tế và Ty, Sở Tài chính, để xét nghiệm phẩm chất còn lại rồi căn cứ vào phẩm chất này mà trị giá mới theo thực trạng, báo cáo lên Liên bộ Nội thương, Y tế xét duyệt. Sau đó mới được hạch toán số thiệt hại vào sổ sách. Số thiệt hại, tức là chênh lệch giữa giá cũ và giá mới, sẽ do Bộ Nội thương chịu trách nhiệm.

- Đối với hàng mất phẩm chất cũng do Hội đồng trên xét định và đề nghị với Liên bộ giải quyết cho hủy bỏ hoặc chế biến thu hồi nguyên liệu. Trong khi chờ đợi Liên bộ giải quyết, trên sổ sách kết toán vẫn phải ghi theo giá cũ, chừng nào giải quyết xong mới điều chỉnh sổ sách. Số thiệt hại cũng do Bộ Nội thương chịu trách nhiệm như đối với hàng kém phẩm chất.

- Công việc kiểm kê, xác nhận tình hình hàng hóa kém hay mất phẩm chất phải hoàn thành và báo cáo lên Bộ Nội thương chậm nhất là ngày 15-3-1961. Sau ngày 15-3-1961 Bộ Nội thương sẽ không chịu trách nhiệm nữa về mặt tài chính.

5. Về công nợ: Những khoản công nợ còn đầy đủ chứng từ và đang trong quá trình thanh toán thì bàn giao, còn những khoản công nợ dây dưa khó đòi hoặc mất chứng từ thì không bàn giao, các đơn vị cũ vẫn phải tiếp tục chịu trách nhiệm thanh toán và báo cáo với Bộ Nội thương.

6. Về quỹ xí nghiệp: Hiện nay còn bao nhiêu và năm 1961 được duyệt bao nhiêu sẽ chuyển hết để các đơn vị mới tiếp tục sử dụng nếu là đơn vị hạch toán kinh tế thì lấy quỹ chung chia ra bình quân đầu người để giao lại cho đơn vị thuốc nam thuốc bắc tách sang Bộ y tế, trên cơ sở số người.

II. BÀN GIAO CÁC ĐƠN VỊ ĐÃ, HẠCH TOÁN KINH TẾ HOÀN TOÀN

Các đơn vị đó là:

Cấp I gồm có:

- Công ty thuốc nam thuốc bắc trung ương

- Trạm thuốc nam thuốc bắc cấp I Hà nội

- Trạm thuốc nam thuốc bắc cấp I Hải phòng.

- Xưởng cao đơn hoàn tán Hà nội.

Cấp II gồm có:

1. Hà nội 8. Bắc ninh 15. Hải dương

2. Hải phòng 9. Vĩnh phúc 16. Hưng yên

3. Hồng quảng 10. Sơn tây 17. Kiến an

4. Thanh hóa 11. Quảng bình 18. Bắc giang

5. Nghệ an 12. Nam định 19. Phú thọ

6. Hà tĩnh 13. Ninh bình 20. Yên bái

7. Thái bình 14. Hà đông

1. Các trạm thuốc nam thuốc bắc cấp I, xưởng cao đơn hoàn tán Hà nội và các Công ty thuốc nam thuốc bắc cấp II nói trên là những đơn vị đã hạch toán kinh tế hoàn toàn, được Nhà nước cấp vốn và được Ngân hàng cho vay. Khi giao sang Bộ y tế, các đơn vị này vẫn còn đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn các đơn vị hạch toán kinh tế vẫn tiếp tục kinh doanh thuốc nam thuốc bắc, cao đơn hoàn tán dưới sự chỉ đạo của Bộ y tế (Sở, Ty y tế các tỉnh và Cục phân phối dược phẩm) và vẫn tiếp tục quan hệ với Tài chính và Ngân hàng để đảm bảo vốn kinh doanh.

2. Các Sở, Ty Thương nghiệp địa phương sẽ bàn giao toàn bộ tài sản và toàn bộ vốn tự có, vốn vay Ngân hàng của các trạm cấp I, xưỏng và các Công ty thuốc nam thuốc bắc cấp II nói trên sang các Sở, và Ty Y tế theo đúng quyết toán đến cuối 31-12-1960 của các đơn vị nói trên. Các đơn vị này có nhiệm vụ làm quyết toán 1960 cho nhanh chóng, chậm nhất đến ngày 15-03-1961 phải xong, Các Sở và Ty Thương nghiệp các tỉnh thẩm tra báo cáo của các Công ty cấp II, Công ty thuốc nam thuốc bắc cấp I thẩm tra báo cáo của các trạm cấp I và gửi về Bộ Nội thương và Bộ Y tế để hai Bộ cùng xét duyệt quyết toán và lập biên bản giao chính thức.

3. Mặc dù còn phải chờ đợi quyết toán năm 1960 và lập biên bản bàn giao chính thức, kể từ ngày 01-01-1961 trở đi, quyền quản lý vốn và tài sản đối với 24 đơn vị nói trên đều thuộc về Sở, Ty Y tế các tỉnh và Cục phân phối dược phẩm (Bộ y tế). Các việc điều động tiền nong, hàng hóa, duyệt định mức và chỉ tiêu kế hoạch tài vụ đều do Sở và Ty Y tế địa phương quyết định. Các báo cáo về tài sản và tài vụ của những đơn vị đó đều gửi về Cục phân phối dược phẩm (Bộ Y tế). Riêng đối với việc có liên quan đến hoạt động trong năm 1960 như tổng kết quyết toán, thanh toán nốt các công nợ dây dưa, nộp lợi nhuận khấu hao năm 1960 v.v… thì phải báo cáo về Bộ Nội thương.

Trong khi chưa quyết toán xong hoạt động năm 1960, các đơn vị nói trên vẫn tiếp tục nộp lợi nhuận và khấu hao cơ bản vào ngân sách về phần hoạt động năm 1960, đảm bảo nộp đầy đủ và nộp nhanh theo yêu cầu khẩn trương của ngân sách Nhà nước. Mặt khác, phải đặc biệt chú ý giải quyết các khoản công nợ dây dưa về năm 1960 tạo điều kiện bàn giao tốt về vốn và tài sản giữa hai bên.

4. Để đảm bảo kinh doanh bình thường, các đơn vị nói trên sẽ căn cứ vào nhiệm vụ kinh doanh năm 1961 do Bộ y tế giao mà đặt kế hoạch tài vụ. Các kế hoạch đó sau khi được Bộ y tế duyệt sẽ được Bộ Tài chính và Ngân hàng giải quyết vốn theo chế độ hiện hành.

Ngày 1-1-1961 là ngày chuyển quyền chủ quản vốn và tài sản. Để khỏi trở ngại cho việc vay vốn của Ngân hàng, các đơn vị nói trên đến Ngân hàng xin chuyển quyền chủ quản từ Bộ Nội thương sang Bộ y tế.

5. Kết quả hoạt động kinh doanh từ 31-12-1960 trở về trước do Sở và Ty Thương nghiệp chịu trách nhiệm tổng hợp ở địa phương, Công ty thuốc nam thuốc bắc trung ương tổng hợp các trạm cấp I và báo cáo lên Bộ Nội thương.

Sau khi quyết toán và bàn giao, nếu có những khoản nào không bàn giao được thì mỗi đơn vị phải thành lập một bộ phận thanh toán có trách nhiệm đảm bảo giải quyết nhanh, gọn, tốt, những việc còn tồn tại và phải báo cáo kết quả về Bộ Nội thương.

III. ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ CHƯA HẠCH TOÁN KINH TẾ HOÀN TOÀN

Các cơ sở đó là:

1. Vĩnh linh 6. Lạng sơn

2. Tuyên quang 7. Cao bằng

3. Bắc cạn 8. Hòa bình

4. Hải ninh 9. Lào cai

5. Thái nguyên 10. Thái Mèo

1. Các Sở và Ty Thương nghiệp địa phương bàn giao toàn bộ tài sản gồm tài sản lưu động và tài sản cố định sang cho Sở và Ty y tế của các đơn vị nói trên theo đúng chi tiết trong quyết toán đến 31-12-1960 mà Sở và Ty Thương nghiệp đã lập.

2. Trong khi chờ đợi bàn giao chính thức giữa 2 Bộ, kể từ ngày 1-1-1961 trở đi, quyền chủ quản của Sở và Ty Thương nghiệp nói trên sẽ chuyển sang Sở và Ty Y tế. Để đảm bảo hoạt động bình thường các Sở, Ty Thương nghiệp và Sở, Ty Y tế sẽ tổ chức những cơ sở chưa hạch toán kinh tế kể trên thành đơn vị, hạch toán kinh tế hoàn toàn. Các việc điều động tiền nong hàng hóa, duyệt định mức chỉ tiêu kế hoạch tài vụ đến do cục phân phối Dược phẩm (Bộ Y tế) quyết định. Các báo cáo về tài sản đều gửi về Cục phân phối dược phẩm (Bộ y tế).

3. Các đơn vị này chưa phải là đơn vị hạch toán kinh tế hoàn toàn, chưa có tư cách pháp nhân nên chưa có vốn riêng, chưa có quyền vay Ngân hàng thì ngay từ bây giờ Sở và Ty Thương nghiệp và Sở và Ty Y tế phải:

a) Tạm giao sang sở, Ty Y tế mức vốn mà các đơn vị này đã sử dụng thông thường trong năm 1960 (tính đến ngày 31-12-1960) và nếu có, cộng thêm với mức vốn đã được cấp phát thêm cho năm 1961.

b) Sở, Ty Thương nghiệp và Sở, Ty Y tế phải tích cực chuẩn bị điều kiện, để nâng các đơn vị này thành đơn vị kinh doanh hạch toán kinh tế.

c) Ngày 1-1-1961 kể là ngày chuyển vốn và tài sản từ Thương nghiệp sang Y tế, nên các đơn vị nói trên phải đến Ngân hàng xin mở tài khoản tiền gửi Ngân hàng để hoạt động riêng, không phụ thuộc vào Sở và Ty Thương nghiệp nữa.

4. Các khoản lãi vay Ngân hàng trong thời gian từ ngày 1-1-1961 đến khi các đơn vị trở thành đơn vị hạch toán kinh tế hoàn toàn, các đơn vị đó sẽ thanh toán trực tiếp với Ngân hàng. Nếu có trường hợp Sở, Ty Thương nghiệp đã trả lãi cho Ngân hàng về các khoản vay cho các đơn vị ấy, tính từ ngày 1-1-1961 cho đến ngày nhận được thông tư này, thì các đơn vị phải hoàn lại cho Sở, Ty Thương nghiệp.

Về những thể lệ chế độ như: khấu hao tài sản cố định và sửa chữa lớn, chế độ kế toán thống kê, tài vụ, bảo quản hàng hóa, bảo vệ tài sản, thanh toán công nợ, quỹ xí nghiệp v.v… vẫn phải chấp hành, theo nguyên tắc của Bộ Nội thương đã ban hành, trong khi chờ đợi Bộ y tế có ý kiến thay đổi.

5. Khi đã bàn giao xong, những cửa hàng chưa đủ khả năng chấp hành chế độ kế toán độc lập, Sở và Ty Thương nghiệp có trách nhiệm giúp đỡ về mặt này và nếu cần có thể cho phép cán bộ phụ trách kế toán của thuốc nam thuốc bắc làm việc tại Phòng kế toán của Sở và Ty thương nghiệp, để Sở và Ty Thương nghiệp trực tiếp giúp đỡ như một bộ phận kế toán của Sở và Ty cho đến khi nào đồng chí phụ trách kế toán tự lập được sẽ rút về Sở, Ty Y tế.

Trong việc chấp hành thông tư này, nếu các cấp có gặp khó khăn trở ngại gì thì báo cáo lên Bộ Nội Thương và Bộ Y tế để hai Bộ có biện pháp giúp đỡ.

K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ
THỨ TRƯỞNG
 
 


Nguyễn Đức Thắng

K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ NỘI THƯƠNG
THỨ TRƯỞNG


 

 
Nguyễn Văn Đào

 

Văn bản này chưa cập nhật nội dung Tiếng Anh

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Thông tư liên bộ 05-TT/LB năm 1961 về việc bàn giao tài sản và vốn của ngành kinh doanh thuốc nam thuốc bắc cấp I và cấp II thuộc Bộ Nội thương sang Bộ Y tế do Bộ Y tế - Bộ Nội thương ban hành

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


3.726

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT có liên kết cung cấp dịch vụ tại các Báo điện tử sau:

TVPL:
DMCA.com Protection Status